Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2020

Quyết Nghị Của Các Giám Mục Việt Nam Về Lễ Nghi Tôn Kính Ông Bà Tổ Tiên (1974).



              Khi nhìn lại quá trình loan báo Tin Mừng trong Năm Thánh, người giáo dân Việt Nam chúng ta vẫn còn đối diện với một ngộ nhận khá phổ biến nơi người ngoài Kitô giáo cho rằng: “Theo Đạo, bỏ Ông Bà”. Thực ra, người Kitô hữu được yêu câù thực hành Mười Điều Răn, trong đó điều thứ tư yêu cầu người Công giáo phải thảo kính cha mẹ. Hơn nữa, mỗi khi tham dự Thánh lễ, mọi Kitô hữu đều cầu nguyện cho Ông Bà tổ tiên đã ly trần. Từ gần 40 năm qua, các Giám mục Việt Nam đã có những chỉ dẫn cụ thể về việc tôn kính Ông Bà Tổ tiên. Sau đây là nguyên văn của Quyết nghị này:
 
Quyết nghị về Lễ nghi tôn kính Ông Bà Tổ Tiên


              Chúng tôi, các Giám mục chủ tọa khóa hội thảo VII về Truyền Bá Phúc Âm toàn quốc, tại Nha Trang ngày 12-14 tháng 11 năm 1974, đồng chấp thuận cho phổ biến việc thi hành trong toàn quốc, những quyết nghị của Ủy Ban Giám mục về Truyền Bá Phúc Âm ngày 14.6.1965, về các lễ nghi tôn kính Ông Bà tổ tiên, như sau:

                 "Để đồng bào lương dân dễ dàng chấp nhận Tin Mừng, hội nghị nhận định: Những cử chỉ thái độ, lễ nghi (sau này) có tính cách thế tục lịch sự xã giao để tỏ lòng hiếu thảo, tôn kính và tưởng niệm các Tổ Tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ, nên được thi hành và tham dự cách chủ động" (Thông cáo Hội Đồng Giám Mục Việt Nam 14.06.1974).

1. Bàn thờ gia tiên để kính nhớ Ông Bà Tổ tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình, miễn là trên bàn thờ không bày biện điều gì mê tín dị đoan, như hồn bạch.

2. Việc đốt nhang hương, đèn nến trên bàn thờ gia tiên và vái lạy trước bàn thờ, giường thờ Tổ tiên, là những cử chỉ thái độ hiếu thảo tôn kính, được phép làm.

3. Ngày giỗ cũng là ngày "kỵ nhật" được "cúng giỗ" trong gia đình theo phong tục địa phương miễn là loại bỏ những gì là dị đoan mê tín, như đốt vàng mã, và giảm thiểu cùng canh cải những lễ vật biểu dương đúng ý nghĩa thành kính biết ơn Ông Bà, như dâng hoa trái, hương đèn.

4. Trong hôn lễ, dâu rể được làm "Lễ Tổ, Lễ Gia Tiên" trước bàn thờ, giường thờ Tổ tiên, vì đó là nghi lễ tỏ lòng biết ơn, hiếu kính trình diện với Ông Bà.

5. Trong tang lễ được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương để tỏ lòng cung kính người đã khuất cũng như Giáo Hội cho đốt nến, xông hương nghiêng mình trước thi hài người quá cố.

6. Được tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng quen gọi là phúc thần tại đình làng, để tỏ lòng cung kính biết ơn những vị mà theo lịch sử đã có công với dân tộc hoặc là ân nhân của dân làng, chứ không phải là mê tín như đối với các "yêu thần, tà thần".

              Trong trường hợp thi hành các việc trên đây sợ có sự hiểu lầm nên khéo léo giải thích qua những lời phân ưu khích lệ, thông cảm... Đối với giáo dân, cần phải giải thích cho hiểu việc tôn kính Tổ tiên và các vị anh hùng liệt sĩ theo phong tục địa phương, là một nghĩa vụ hiếu thảo của đạo làm con cháu, chứ không phải là những việc tôn kính liên quan đến tín ngưỡng, vì chính Chúa cũng truyền phải "thảo kính cha mẹ", đó là giới răn sau việc thờ phượng Thiên Chúa.

Tại Nha Trang, ngày 14.11.1974

Ký tên:

- Philiphê Nguyễn Kim Điền, TGM Huế
- Giuse Trần Văn Thiện, GM Mỹ Tho
- Giacôbê Nguyễn Văn Mầu, GM Vĩnh Long
- Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang, GM Cần Thơ
- Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, GM Nha Trang
- Phêrô Nguyễn Huy Mai, GM Ban Mê Thuột
- Phaolô Huỳnh Đông Các, GM Quy Nhơn


http://giaophanthanhhoa.net/van-kien-giao-hoi/quyet-nghi-cua-cac-giam-muc-viet-nam-ve-le-nghi-ton-kinh-ong-ba-to-tien-1974-21774.html

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2019

Ban Phép Lành Tòa Thánh trong thánh lễ mở tay

Kết quả hình ảnh cho phep lanh toa thanh

         Từ lâu nay, khi cử hành thánh lễ đầu tiên hay thánh lễ tạ ơn khá long trọng, các tân linh mục thường ban Phép lành Tòa Thánh cùng với ơn toàn xá kèm theo (Benedictionem papalem cum indulgentia plenaria). Ơn toàn xá này được ban cho chính vị tân linh mục và những người tham dự thánh lễ với điều kiện là họ lãnh nhận Bí tích Hòa giải, Rước lễ và cầu nguyện theo ý Ðức Giáo Hoàng. Ðây là thực hành hợp pháp và có hiệu lực dựa theo Sắc lệnh của Tòa Ân giải Tối cao (Paenitentiaria Apostolica) với sự chấp thuận của Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI được ban hành tại Rôma ngày 5.11.1964.
            Tuy nhiên, theo thông báo mới đây của Ủy ban Phụng tự trực thuộc HÐGM Việt Nam “VỀ VIỆC BAN PHÉP LÀNH TÒA THÁNH VỚI ƠN TOÀN XÁ” (ban hành ngày 3.12.2018),1 chúng ta ghi nhận một số điểm sau:

I. Phép lành Tòa Thánh không còn hiệu lực
               Sắc lệnh của Tòa Ân giải Tối cao ban hành ngày 5.11.1964 không còn hiệu lực, nghĩa là các linh mục mới thụ phong không còn ban Phép lành Tòa Thánh trong thánh lễ tạ ơn / thánh lễ đầu tiên nữa, bởi vì Sắc lệnh này được điều chỉnh bởi những khoản luật chung trong Sổ bộ các Ân xá: Quy chế và Ân ban (Enchiridion Indulgentiarum: Normae et Concessiones) được xuất bản lần thứ I vào tháng 6.1968; lần thứ II vào tháng 10.1968; lần thứ III vào năm 1986 (18.5.1986) và lần thứ IV vào năm 1999 (16.7.1999).
II. Nhưng ơn toàn xá vẫn được ban
                Cho dù Phép lành Tòa Thánh không còn hiệu lực trong thánh lễ đầu tiên của tân linh mục nữa nhưng ơn toàn xá thì vẫn còn được áp dụng trong dịp cử hành thánh lễ này. Thật vậy, cả 4 lần xuất bản, Sổ bộ các Ân xá đều đề cập đến trường hợp Phép lành Tòa Thánh được ban cùng với ơn toàn xá. Nhưng liên quan đến thánh lễ đầu tiên của linh mục mới chịu chức, tại số 43, trong 3 lần xuất bản trước, tài liệu chỉ nói chung rằng: “Ơn toàn xá được ban cho linh mục nhân dịp cử hành lễ mở tay cách trọng thể và cho các tín hữu sốt sắng tham dự thánh lễ này” (Prima Missa neosacerdotum); Và tại “Concessiones” số 27 (Prima sacerdotum Missa et iubilares Ordinationum celebrationes) trong lần xuất bản Sổ bộ các Ân xá mới nhất vào năm 1999, tài liệu cũng chỉ nói tương tự: “Ơn toàn xá được ban cho: (1) Linh mục nhân dịp cử hành thánh lễ mở tay trước đoàn dân vào một ngày đã chọn; (2) Các tín hữu sốt sắng tham dự thánh lễ này”.2
III. Ban Phép lành Tòa Thánh khác với việc ban ơn toàn xá
               Có một số Phép lành Tòa Thánh kèm theo việc ban ơn toàn xá luôn cho những ai đáp ứng các điều kiện đã cho (là người Công giáo, sạch tội trọng, có ý lãnh). Nhưng có Phép lành Tòa Thánh được ban trong hình thức văn tự [chẳng hạn qua một điện tín, trên tờ thư, trên một tờ giấy thường hoặc trên bằng Phép lành Tòa Thánh được trang trí thật đẹp] thì không ban ơn toàn xá hay tiểu xá gì, mà chỉ là sự “chúc lành” của Ðức Thánh Cha theo ý người xin.3 Sổ bộ các Ân xá: Quy chế và Ân ban [ấn bản 1999]” (Enchiridion Indulgentiarum: Normae et Concessiones, editio typica quarta, 1999) liệt kê 33 trường hợp được lãnh ơn toàn xá và hầu hết các trường hợp này [được hưởng ơn toàn xá hằng ngày hoặc được hưởng ơn toàn xá vào dịp đặc biệt nào đó] đều không gắn với Phép lành Tòa Thánh, ngoại trừ các trường hợp sẽ được nói dưới đây (Enchiridion Indulgentiarum: Normae et Concessiones [1999], “Concessiones”, các số 4 và 12.1; “Normae de indulgentiis”, số 7.2 và 9). Trong dịp cử hành thánh lễ mở tay, ơn toàn xá vẫn được ban cho chính tân linh mục và cho tất cả tín hữu sốt sắng tham dự thánh lễ này, trước đây thì gắn với Phép lành Tòa Thánh, nhưng nay thì không còn nữa (Enchiridion Indulgentiarum: Normae et Concessiones [1999], “Concessiones”, số 27).

IV. Các trường hợp ban Phép lành Tòa Thánh với ơn toàn xá
                Các linh mục vừa mới chịu chức sẽ không ban Phép lành Tông Tòa với ơn toàn xá đi kèm trong thánh lễ mở tay nữa, vì nay việc ban Phép lành Tòa Thánh hay Phép lành Tông Tòa cùng với ơn toàn xá [cho các các tín hữu sốt sắng lãnh nhận] chỉ áp dụng cho một số trường hợp sau:
1. Chính Ðức Giáo Hoàng ban phép lành “Urbi et Orbi” (cho thành phố [Rôma] và cho thế giới) trong những dịp trọng đại (chẳng hạn như dịp lễ Giáng Sinh, lễ Phục Sinh, nhân dịp đăng quang Giáo hoàng hay Năm Thánh…). Các tín hữu có thể lãnh nhận trực tiếp Phép lành Tông Tòa này (Benedictio Papalis) cùng với ơn toàn xá đi kèm tại quảng trường thánh Phêrô hoặc gián tiếp qua truyền thanh, truyền hình (Enchiridion Indulgentiarum: Normae et Concessiones [1999], “Concessiones”, số 4) 4
2. Các Giám mục chính tòa có thể ban Phép lành Tòa Thánh [với ơn toàn xá] ba lần một năm vào các dịp lễ trọng đặc biệt mà ngài chỉ định, ngay cả khi ngài chỉ dự lễ đó mà thôi. Những Giám chức khác ngang quyền với Ðức Giám mục giáo phận, dù không có chức Giám mục: từ khi nhận trách nhiệm mục vụ, cũng được ban phép lành của Ðức Thánh Cha (= Phép lành Tòa Thánh) với ơn toàn xá trong địa hạt của mình ba lần trong năm, vào các ngày lễ trọng thể mà các ngài chỉ định. Loại phép lành này được ban vào cuối thánh lễ thay thế phép lành vẫn quen làm theo những quy tắc được nêu ra trong Sách Lễ nghi Giám mục. Nhưng ngay khi làm hành vi thống hối lúc đầu lễ thì đã phải hướng về phép lành này rồi (Enchiridion Indulgentiarum: Normae et Concessiones [1999], “Normae de indulgentiis”, số 7.2; Sách Lễ nghi Giám mục, các số 1122-1126);5
3. Ðức Thượng phụ hoặc Ðức Tổng Giám mục [thuộc các Giáo hội Công giáo Ðông phương6 có thể ban Phép lành Tòa Thánh với ơn toàn xá 3 lần trong năm và ban bất cứ khi nào xét thấy rằng ơn toàn xá đảm bảo cho lợi ích của các tín hữu do bởi hoàn cảnh đặc biệt hay có lý do đặc biệt. Ngài còn có thể ban ơn toàn xá và ơn tiểu xá khắp nơi trong lãnh thổ của mình, trong các nhà thờ theo nghi lễ của mình dù ở bên ngoài lãnh thổ, cũng như ban cho các tín hữu thuộc nghi lễ của ngài ở khắp nơi ((Enchiridion Indulgentiarum: Normae et Concessiones [1999], “Normae de indulgentiis”, số 9).
4. Các linh mục có thể ban Phép lành Tòa Thánh với ơn toàn xá cho bệnh nhân trong trường hợp nguy tử (in articulo mortis) như được đề ra trong Sổ bộ các Ân xá [ấn bản 1999] tại “Normae de indulgentiis” số 18.27 cũng như tại “Concessiones” số 12.18 và trong Sách Nghi thức Chăm sóc Mục vụ cho Bệnh nhân tại các số 195 và 201. Số 201 nói về Của ăn đàng ngoài thánh lễ, vốn là trường hợp bình thường cho việc ban Phép lành Tòa Thánh. Chữ đỏ cho biết rằng khi kết thúc Bí tích Giải tội hoặc nghi thức sám hối, vị linh mục có thể ban Phép lành Tòa Thánh [với ơn toàn xá] cho người nguy tử, bằng cách sử dụng một trong các công thức sau: “Vì các mầu nhiệm cực thánh trong việc cứu chuộc nhân loại, xin Thiên Chúa toàn năng tha cho con (ÔBACE) mọi hình phạt đời này và đời sau, xin Người mở cửa thiên đường và dẫn con (ÔBACE) về chốn vui vẻ muôn đời”; Hoặc công thức: “Cha (tôi) dùng quyền Tòa Thánh đã ủy cho, ban ơn toàn xá và ơn tha thứ mọi tội lỗi cho con (ÔBACE), nhân danh Cha, và Con + và Thánh Thần. Amen”;9
5. Khi Tòa Ân giải Tối cao ra Sắc lệnh cho phép ban Phép lành Tòa Thánh với ơn toàn xá kèm theo trong một dịp long trọng nào đó [theo thỉnh nguyện]. Chẳng hạn nhân dịp Năm Thánh kỷ niệm 30 năm tôn phong hiển thánh cho 117 vị Tử đạo tại Việt Nam, Tòa Ân giải Tối cao đã ra Sắc lệnh cho phép ban PHÉP LÀNH TÒA THÁNH kèm theo ơn toàn xá với các điều kiện thông thường (xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Ðức Giáo Hoàng), cho tất cả các Giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ và Kitô hữu có lòng sám hối thực sự và được đức mến thúc đẩy, đã tham dự chính các thánh lễ [trong những ngày từ 19 tháng Sáu đến ngày 24 tháng Mười Một năm 2018, những ngày khai mạc và bế mạc cách long trọng]. Các Kitô hữu muốn sốt sắng lãnh nhận Phép lành Tòa Thánh, nhưng vì hoàn cảnh hữu lý, không thể tham dự các nghi lễ thánh, thì theo luật, vẫn có thể được ơn toàn xá, miễn là có ý hướng đạo đức theo dõi qua các phương tiện truyền hình hay truyền thanh, chính các nghi lễ ấy lúc đang được cử hành (Văn thư số: 224/18/1 ban hành ngày 23.3.2018).
V. Kết luận thực hành
           Hệ luận thực hành tất yếu là, từ nay, trong thánh lễ mở tay của tân linh mục:
1. Không công bố Sắc lệnh của Tòa Ân Giải Tối Cao về việc ban Phép lành Tòa Thánh cùng với ơn toàn xá kèm theo nữa (tức không đọc đoạn “Ðức Phaolô VI, do thánh ý Chúa quan phòng, được đặt lên làm Giáo Hoàng, sẵn lòng chấp nhận những lời thỉnh cầu, vì Ngài tỏ lòng lưu tâm của Bậc Hiền Phụ đối với các linh mục mới chịu chức, nên Ngài ban cho mọi tân linh mục, khi cử hành thánh lễ đầu tiên khá long trọng, có thế BAN PHÉP LÀNH TÒA THÁNH cùng với ƠN TOÀN XÁ đi kèm theo. Phép lành này chỉ được ban một lần mà thôi, theo công thức trong Sách Lễ nghi Rôma, và chỉ được ban ở ngoài thành Rôma. ƠN TOÀN XÁ này chi được ban cho các tín hữu đã xưng tội, rước lễ, đã hết lòng tham dự thánh lễ này, đã nhận PHÉP LÀNH TÒA THÁNH nói trên, và cầu nguyện theo ý Ðức Giáo Hoàng.” Thay vào đó, có thể trích đọc từ Sổ bộ các Ân xá rằng: “Ơn toàn xá được ban cho tân linh mục nhân dịp cử hành thánh lễ mở tay trước đoàn dân vào một ngày đã chọn; và ban cho các tín hữu sốt sắng tham dự thánh lễ này.” (Enchiridion Indulgentiarum: Normae et Concessiones [1999], “Concessiones”, số 27);
2. Tân linh mục không ban Phép lành Tòa Thánh cùng với ơn toàn xá như trước cho nên không sử dụng công thức cũ nữa (Tân linh mục: Chúa ở cùng anh chị em / Mọi người: Và ở cùng Cha - Tân linh mục: Hãy chúc tụng Danh Chúa / Mọi người: Từ bây giờ và cho đến muôn đời - Tân linh mục: Ơn phù trợ chúng ta ở nơi Danh Chúa / Mọi người: Là Ðấng Tạo Thành trời đất - Tân linh mục: Xin Thiên Chúa toàn năng là Cha + và Con + và Thánh Thần ban phúc lành cho anh chị em / Mọi người: Amen). Thay vào đó, vào lúc cuối lễ, tân linh mục có thể sử dụng bất cứ công thức chúc lành nào đã được ấn định trong Sách Lễ theo thời gian và mùa phụng vụ.10
Lm Giuse Phạm Ðình Ái, dòng Thánh Thể, SSS
http://www.cgvdt.vn/cong-giao-viet-nam/ban-phep-lanh-toa-thanh-trong-thanh-le-mo-tay_a8704

Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2018

Tại sao gọi là Tuần Thương Khó?


           Chúa nhật lễ lá, bắt đầu Tuần thánh. Lịch Phụng vụ cũng ghi là Chúa nhật tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa. Trước đây, mùa thương khó bắt đầu hai tuần trước lễ Chúa Phục sinh, tại sao bây giờ rút còn một tuần? 
 passion-week.jpg
       Trước cuộc cải tổ lịch phụng vụ năm 1969, thì mùa thương khó bắt đầu từ Chúa nhật thứ năm mùa chay, và như vậy kéo dài hai tuần. Mùa thương khó gây một ấn tượng khá lớn cho các tín hữu. Tất cả các tượng ảnh trong nhà thờ đều bị phủ bởi màn tím cho đến lễ Vọng Phục sinh. Nhiều nhà thờ còn căng một bức màn lớn che khuất tất cả gian thánh. Có người giải thích là Chúa Giêsu đi trốn, bởi vì dựa trên bài Phúc âm thuật lại việc Chúa lánh mình khi dân chúng mưu toan ném đá Người. Thế nhưng với cuộc canh tân sau công đồng Vaticanô II, thì lịch phụng vụ không còn nói đến mùa thương khó nữa, mà chỉ còn Mùa Chay kéo dài cho tới lễ Phục sinh. Tuần lễ trước Phục sinh không phải là tuần Thương khó, nhưng từ ngữ “tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa” chỉ còn được gắn cho hai ngày: Chúa nhật lễ lá (Dominica in Palmis de Passione Domini) và thứ sáu tuần thánh (Feria VI in passione Domini). Vào hai dịp đó, phụng vụ đọc bài Thương khó: ngày Chúa nhật thì dựa theo Phúc âm nhất lãm thay đổi tùy theo chu kỳ ABC; còn ngày thứ Sáu thì luôn luôn đọc Phúc âm theo thánh Gioan.
Tại sao cuộc cải tổ phụng vụ lại bỏ mùa Thương khó?
 
        Thực ra thì không phải là bỏ, nhưng mà muốn trở lại với truyền thống cổ xưa thôi. Từ thời xưa, các Kitô hữu dành 40 ngày để chuẩn bị mừng Lễ Chúa Phục sinh. Vì thế thời gian đó được gọi là Mùa 40 (trong tiếng La-tinh là Quadragesima), chứ không phải là mùa thương khó. Trong thời gian này, các dự tòng được chuẩn bị qua chương trình huấn giáo sâu đậm để lãnh các bí tích khai tâm. Còn những người đã được rửa tội rồi thì được mời gọi xét mình về cuộc sống đức tin, xem mình đã trung thành thế nào đối với lời cam kết. Dĩ nhiên, đây cũng là thời gian để thực hành công cuộc cải hoán, qua việc cầu nguyện, hãm mình, bác ái. Vào thời Trung cổ, khi mà con số dự tòng không còn đáng kể nữa, thì công cuộc huấn giáo cũng bớt phần quan trọng. Từ đó, người ta chuyển sang việc suy gẫm cuộc Thương khó của Chúa.

Thương khó là gì?

             Chúng ta có thể khảo sát ý nghĩa của từ này theo tiếng Hán Việt cũng như theo nguyên gốc La-tinh. “Thương” ở đây không có nghĩa là “yêu”, nhưng có nghĩa là “đau xót, đau đớn xót xa”, chẳng hạn như khi nói “thương tâm, đau thương, thảm thương, sầu thương”. Còn “khó” không phải trái nghịch với dễ; nhưng “khó” ở đây có nghĩa là “khổ”, chẳng hạn như “khốn khó, khốn khổ”. Nói tóm lại “thương khó” cũng tương tự như là “đau khổ”. Trên thực tế, nhiều bản dịch Việt ngữ dùng những từ “Tử nạn, Khổ nạn, Chịu nạn, Chịu khổ hình”. Đó là nói đến từ ngữ Hán Việt. Đến khi bước sang nguyên bản La-tinh, ta sẽ còn thấy nhiều ý nghĩa khác nữa. Từ “thương khó” dùng để dịch từ “passio” trong tiếng La-tinh (sang tiếng Pháp và tiếng Anh thì thêm chữ “n”: passion). Thế nhưng từ passio có tới ít là bốn nghĩa.

1/ Thường thì người ta giải thích rằng passio bởi động từ “patior, pati” (có nghĩa: chịu đau khổ).

2/ Một ý kiến khác hiểu tiếng passio theo nghĩa triết học, tức là “thụ động” (bị động), nhận hành động từ một chủ động khác. Như vậy “passio” đối ngược với “actio”.

3/ Một ý kiến thứ ba cho rằng passio bắt nguồn từ pathos trong tiếng Hy-lạp, và như vậy có nghĩa là cảm xúc, xúc động. Cũng theo chiều hướng đó, mà trong tâm lý học, passio thường được dịch là “đam mê, say mê, mê man”.

4/ Sau cùng, có người tán giải passio (passus) theo nghĩa là đi ngang qua, để nói đến cuộc vượt qua của Đức Giêsu: người trải qua sự khổ và cái chết để tiến vào vinh quang Phục sinh.

Trong 4 nghĩa vừa nói, nghĩa nào đúng hơn cả?

            Trong bối cảnh của phụng vụ, thì nghĩa thứ nhất sát hơn nữa: passio có nghĩa là chịu đau khổ. Nói một cách cụ thể hơn, trong buổi cử hành phụng vụ, Hội thánh đọc lại các bài trình thuật Phúc âm thuật lại cuộc “khổ nạn” của Chúa Giêsu, từ lúc dùng bữa tiệc Vượt qua với các môn đệ (hoặc là từ khi vào Vườn Cây dầu, theo thánh Gioan), rồi bị bắt, bị xử án, bị đánh đòn, vác thánh giá lên núi Calvariô, nơi chịu tử hình. Chúng ta có thể đọc trình thuật này trong Phúc âm theo thánh Marcô chương.14-15; thánh Mattêu chương 26-27; thánh Luca chương 22-23; thánh Gioan chương 18-19. Cũng nên biết, là trong tiếng La-tinh, từ “passio” cũng được áp dụng cho trình thuật kể lại cuộc tử đạo của các Kitô hữu cổ thời.

Phụng vụ chỉ tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa Giêsu qua việc đọc bài Phúc âm nói về cuộc Thương khó của Chúa mà thôi hay sao?

            Không chỉ có vậy mà thôi. Lòng đạo đức của các tín hữu còn tìm những hình thức khác để tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa qua các việc đạo đức cũng như qua cuộc sống. Xét về các hình thức đạo đức, thì các sử gia thường trưng dẫn những chứng tích bắt đầu từ thế kỷ IV (khoảng năm 380) bên Thánh địa, do một thiếu nữ tên là Egeria kể lại. Vào Chúa nhật lễ Lá, các tín hữu tại Giêrusalem tụ họp ở núi Cây dầu, rồi từ đó rước lá tiến vào thành thánh. Nhưng nhất là kể từ tối thứ năm tuần thánh trở đi, các tín hữu họp nhau tại một nhà thờ tên là Eleona trên núi Cây dầu để tham dự buổi canh thức đầu tiên, từ 7 giờ tối cho đến 11 giờ. Đến nửa đêm, bắt đầu buổi canh thức thứ hai, tại một nhà thờ gần đó, và nghe đọc bài Sách thánh về cuộc hấp hối của Chúa. Đến sáng thứ 6, thì đám rước di chuyển lên núi Calvariô, để nghe đọc bài tường thuật về cuộc Thương khó và cử hành việc suy tôn Thánh Giá. Và suốt ngày thứ sáu, nhiều cuộc suy gẫm lời Chúa được tổ chức bên cạnh nhà thờ kính nhớ mộ Chúa. Có thể nói được là từ đó trở đi, các tín hữu tìm cách diễn lại cảnh thương khó của Chúa theo gương các tín hữu Giêrusalem, không những là vào ngày thứ năm thứ sáu tuần thánh, mà còn kéo dài quanh năm nữa. Một hình thức khá quen thuộc đối với các tín hữu Việt Nam là ngắm 14 chặng đường thánh giá, đi theo Chúa Giêsu từ lúc bị xử án, rồi vác thập giá lên núi Calvariô, nơi Người chịu đóng đinh, chịu chết và mai táng. Nên biết là hình thức 14 chặng như hiện thời chỉ mới thành cố định từ thế kỷ XVII, chứ trước đây nó linh động hơn, chẳng hạn có nơi tính đến 7 lần ngã xuống đất, hoặc bắt đầu từ vườn Cây dầu, rồi bị bắt, bị điệu qua toà Anna, Caipha, vv.

Ở Việt Nam còn có hình thức ngắm 15 sự thương khó Chúa Giêsu nữa, phải Không?

                 Có nhiều hình thức để suy gẫm sự thương khó của Chúa. Một hình thức đơn giản hơn cả là suy gẫm 5 dấu thánh: hai dấu nơi bàn tay; hai dấu nơi bàn chân, và một dấu nơi cạnh sườn. Một hình thức nữa là suy gẫm 7 lời của Chúa Giêsu trên thập giá. Hình thức ngắm 15 sự thương khó của Chúa thì dựa trên một căn bản khác. Tại sao lại có 15 ngắm? Tại vì nó hoạ theo giờ kinh Phụng vụ. Trong ba ngày cuối Tuần thánh, tại các đan viện hay nhà thờ chánh toà, người ta cử hành phụng vụ giờ kinh cách long trọng. Ở chính giữa nhà thờ người ta thắp một giá đèn hình tam giác, với 15 ngọn nến. Tại sao 15 ngọn nến? Có người gỉai thích là tượng trưng cho Chúa Giêsu với 12 tông đồ và 2 môn đệ. Sự thực thì 15 ngọn nến tương đương với 9 thánh vịnh giờ kinh Đêm (nay gọi là kinh Sách) và 5 thánh vịnh giờ Kinh sáng, cộng với thánh ca Tin mừng Benedictus. Cứ sau mỗi thánh vịnh thì người ta tắt đi một ngọn đèn. Tại sao vậy? Có người giải thích là nó tượng trưng cho các tông đồ và môn đệ lần lượt rút lui, bỏ Chúa một mình. Nhưng cũng có người giải thích cách đơn giản là đời xưa khi chưa có đèn điện thì tất nhiên là phải thắp nhiều đèn để đọc sách. Tuy nhiên, trời càng lúc càng về sáng tỏ, cho nên có thể tắt bớt dần dần các ngọn nến đi. Cho dù giải thích nguồn gốc lịch sử như thế nào đi nữa, chúng ta cũng phải khâm phục các vị thừa sai trước đây đã tìm cách để giáo dân tham gia vào phụng vụ Giờ kinh của Giáo hội, dĩ nhiên không phải bằng việc hát các thánh vịnh La-tinh (mà họ chẳng hiểu gì) nhưng qua việc suy gẫm các sự thương khó của Chúa.

Việc tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa chỉ dừng lại ở việc suy gẫm mà thôi hay sao?

              Còn nhiều hình thức khác nữa. Một hình thức khá phổ thông bên Âu châu trước đây là diễn tuồng Thương khó, mà Đức Cha Nguyễn bá Tòng cũng đã thích ứng sang tiếng Việt. Nên biết là tuồng Thương khó không phải chỉ diễn ra trên sân khấu, nhưng còn trở thành hoạt cảnh, nhiều khi biến thành một cuộc rước kiệu. Dù là suy niệm bài thương khó dựa theo Phúc âm, dù là đi đàng Thánh giá hay ngắm các sự thương khó, hoặc tham dự tuồng Thương khó, người tín hữu muốn nhớ đến Chúa Giêsu đã chịu đau khổ vì tội chúng ta; từ đó ta muốn tỏ lòng biết ơn bằng cách thông dự vào sứ mạng cứu độ của Người. Thánh Phaolô đã viết rằng tôi muốn chịu đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, muốn hoàn toàn sống cho Đấng đã yêu mến và hiến mạng vì ta (Gal 2,19-20). Thánh Phaolô cũng muốn lãnh nhận mọi đau khổ để góp phần vào cuộc khổ nạn của Chúa hầu giúp ích cho Hội thánh (Col 1,24). Thánh Phêrô tông đồ, trong bài thánh thi đọc vào kinh chiều Chúa nhật mùa Chay, cũng nhắc cho các tín hữu hãy coi cuộc thương khó của Chúa như một gương mẫu để dõi bước theo Người: “bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe, nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bình” (1Pr 2,23). Thiết tưởng đó là ý nghĩa chính của các việc cử hành cuộc Thương khó của Chúa từ những thế kỷ đầu tiên tại Giêrusalem cho đến chặng đường thánh giá ngày nay: đó là chúng ta muốn đi theo Chúa.
 
Lm. Giuse Phan Tấn Thành
http://giaophanvinhlong.net/tai-sao-goi-la-tuan-thuong-kho.html

Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2017

KHÁC BIỆT GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO VÀ ANH GIÁO.

            
     
          Cả ba Nhánh Kitô Giáo Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành, từ đầu, đều thuộc Đạo Thánh của Chúa Kitô gọi chung là Kitô Giáo ( Christianity ). Nhưng theo dòng thời gian, đã có những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo ( schisms ) hoặc những cải cách (reformations ) đáng tiếc xảy ra khiến Kitô Giáo bị phân chia thành 3 Nhánh chính trên đây. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa là Anh Giáo ( Anglican Communion ) do vua Henri VIII ( 1491-1547 ) của nước Anh chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho nước Anh, tách khỏi Rôma chỉ vì Tòa Thánh Rôma ( Đức Giáo Hoàng Clement VII ) không chấp nhận cho nhà vua ly dị để lấy vợ khác.
            Cho đến nay, các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông được với Giáo Hội Công Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa ba Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi.

I. Chính Thống ( orthodoxy ) khác biệt với Công Gíáo Rôma ( Roman Catholicism ) ra sao ?

          Trước hết, danh xưng Chính Thống “Orthodoxy”, theo ngữ căn (etymology) Hy Lạp “orthos doxa”, có nghĩa là “ca ngợi đúng” (right-praise), “tin tưởng đúng” (right belief). Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các Giáo Đoàn Kitô đã tham dự các Công Đồng Đại Kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đã đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính (sound doctrines), tinh tuyền của Kitô Gíáo để chống lại những gì bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy). Do đó, trong bối cảnh này, từ ngữ “orthodoxy” được dùng để đối nghịch với từ ngữ “heresy” có nghĩa là tà thuyết hay lạc giáo.
Nhưng sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople ( tượng trưng cho Đông Phương ) và Giáo Hội Công Giáo Rôma ( Tây Phương ) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau ( anthemas = excommunications ) ngày 16 tháng 7 năm 1054 giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo Hoàng Leo IX vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần học và quyền bính, thì danh xưng “Chính Thống” ( orthodoxy ) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đã tách ra khỏi hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo Rôma. Sau này, Giáo Hội “Chính Thống” Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia, Lithuania, Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine… Vì thế, ở mỗi quốc gia này cũng có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện. Nghĩa là không có ai là người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches ) tách khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo Rôma. ( Tây Phương )
             Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ ( Patriarch ) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul được coi là Thượng Phụ Đại Kết ( Ecumenical Patriarch ) của các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương. Cách nay 5 năm Đức Thánh Cha Benedict 16 ( đã về hưu năm 2012 ) đã sang thăm Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo Rôma, vì họ cho rằng Công Giáo muốn “lôi kéo” tín đồ Chính Thống Nga vào Công Giáo sau khi chế độ CS ở Nga tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thống Nga hành Đạo. Dầu vậy, một biến cố mới xẩy ra trong năm qua ( 2016 ) là Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp Thượng Phụ Giáo Hội Chính Thống Nga tại Mexico, nhưng kết quả của cuộc gặp gỡ lịch sử này giữa hai vị lãnh đạo Công Giáo và Chính Thống Nga không được công bố sau đó. Nhưng đây là một dấu chỉ tích cực giữa hai Giáo Hội anh em.
           Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo năm 1054, hai nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương (The Greek Church and the Holy See = Rôma) nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện vì cả hai Giáo Hội anh em này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô (Peter) đã rao giảng Tin Mừng ở vùng đất nay là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo Rôma, trong khi em ngài, Thánh Anrê (Andrew) sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy Lạp và sau đó phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội Kitô Giáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có nguồn gốc Tông Đồ thuần túy (Apostolic succession).

Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây:

Về Tín Lý
       Giáo Hội Chính Thống Đông Phương – tiêu biểu ban đầu là Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople,  đã bất đồng với Giáo Hội Công Giáo Rôma về từ ngữ “Filioque” ( và Con ) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng “Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha, và Chúa Con mà ra”.
Giáo Hội Chính Thống Đông Phương cũng không công nhận các tín điều về Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai ( Immaculate Conception ) và Lên Trời cả hồn xác ( Assumption ) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa ( Theotokos ). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố với ơn bất khả ngộ ( Infallibility ) mà Công Đồng Vaticanô I ( 1870 ) đã nhìn nhận.
Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất ( unity ) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople khi đó là Athenagoras I năm 1966.
        Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy Bí Tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với Bí Tích Rửa Tội thì họ dùng nghi thức dìm xuống nước ( immersion ) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân ( đối với người tân tòng ) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.
         Chính vì Giáo Hội Chính Thống có đủ các Bí Tích hữu hiệu như Công Giáo, nên Giáo Dân Công Giáo được phép tham dự Thánh Lễ và lãnh các Bí Tích Hòa Giải và Xức Dầu của Chính Thống nếu không tìm được Nhà Thờ Công Giáo hay Linh Mục Công Giáo khi cần.

Về Phụng Vụ
      Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men ( leavened bread ) và ngôn ngữ Hy Lạp khi cử hành Phung Vụ, trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong Phụng Vụ Thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu thuộc mọi nền văn hóa, chủng tộc khác nhau, trong đó có tiếng Việt Nam.

Sau hết, về mặt kỷ luật Giáo Sĩ
       Các Giáo Hội Chính Thống cho phép các Phó Tế và Linh Mục được kết hôn trừ Giám Mục, trong khi kỷ luật độc thân ( celibacy ) lại được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng Giáo Sĩ và Tu Sĩ Công Giáo, trừ Phó Tế Vĩnh Viễn ( permanent deacons ).
Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo Rôma cho đến nay.
Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc Tông Đồ và về nền tảng Đức Tin, Giáo Lý, Bí Tích và Kinh thánh. Vì thế, Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: “Đối với các Giáo Hội Chính Thống, sự hiệp thông này sâu xa đến nỗi “chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô” ( x. SGL GHCG, số 838 ).

II. Tin Lành ( Protestantism ) và những khác biệt với Công Giáo

       Đúng ra chúng ta phải gọi nhánh này là Giáo Hội Cải Cách ( Reform Church ) hoặc Giáo Hội Thệ Phản ( Protestantism ). Tin Lành chỉ là một hệ phái lớn trong nhánh Kitô Giáo này, nhưng vì người Tin Lành sang Việt Nam sớm nhất, phát triển mạnh và nhanh, nên người Việt mình quen gọi chung tất cả các hệ phái ấy bằng tên gọi là Tin Lành ( ghi chú thêm của Ephata ).
 Nói chung, là Nhánh Kitô Gíáo này đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một Linh Mục Dòng Thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức, và lan sang Pháp với John Calvin, và Thụy Sỹ với Ulrich Zwingli và các nước Bắc Âu sau đó. Hiện nay có hàng chục ngàn giáo phái này ở Mỹ, hoạt động với nhiều danh xưng khác nhau, nhưng cùng ít nhiều có liên hệ đến nguồn gốc thệ phản ( protestantism ) nói trên. Một đặc điểm của các Giáo Phái Tin Lành là họ không có hệ thống giáo quyền ( Hierachy ) chung như Giáo Hội Công Giáo có hàng giáo phẩm tối cao từ trung ương Rôma cho đến các Giáo Hội địa phương ở mỗi quốc gia. Các nhánh Tin Lành hầu như độc lập với nhau về quyền bính, nhân sự, tài chính và phương thức hành đạo.

Ở góc độ thần học
          Những người chủ trương cải cách ( reformations ) trên đã hoàn toàn bác bỏ mọi nền tảng thần học về Bí Tích và cơ cấu tổ chức Giáo Quyền ( Hierachy ) của Giáo Hội Công Giáo. Họ chống lại vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc hòa giải con người với Thiên Chúa qua Bí Tích Tha Tội hay Hòa Giải ( reconciliation ) vì họ không nhìn nhận Bí Tích Truyền Chức Thánh ( Holy Orders ) qua đó Giám Mục, Linh Mục được truyền chức thánh và có quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi ) cũng như thi hành mọi sứ vụ ( ministry) thiêng liêng khác ( Rửa Tội, Thêm Sức, Thánh Thể, Xức Dầu Thánh, Chứng Hôn ).
Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đã bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng hành thiện rồi ( làm việc lành ), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi đều vô ích và vô giá trị. Do đó, chỉ cần tuyên xưng Đức Tin vào Chúa Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. ( Sola fide, sola scriptura ).
Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí cộng tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.” ( Mt 7, 21 ).
Nói khác đi, không phải rửa tội xong, rồi cứ hát Halleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ. Điều quan trong hơn nữa là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, tất cả sẽ ra vô ích.
Anh em Tin Lành không chia sẻ quan điển thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng Kinh Thánh nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi trên đây. Ngoài Phép Báp-têm và Kinh Thánh, họ không tin và công nhận bất cứ một Bí Tích nào khác. Điển hình là Bí Tích Hòa Giải mà các Giám Mục và Linh Mục Công Giáo được phép tha tội cho các hối nhân nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi ).
Lại nữa, vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu, mặc dù một số Giáo Phái Tin Lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ họp để nghe giảng Kinh Thánh. Nhưng đó không phải là cử hành Bí Tích Thánh Thể ( Eucharist ) như trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo Đông Phương. Sứ vụ quan trọng của họ chỉ là giảng Kinh Thánh vì họ chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura ) mà thôi.
Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ, nên có rất nhiều mâu thuẫn hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo Hội Công Giáo.
Thí dụ, câu Phúc Âm trong Mátthêu 22, 8-9 trong đó Chúa Giêsu dạy các Tông Đồ: “Không được gọi ai dưới đất là Cha, là Thầy…” thì anh em Tin Lành hiểu Lời Chúa trong ngữ cảnh ( context ) câu trên hoàn toàn theo nghĩa đen ( literal meaning ) nên đã chỉ trích Giáo Hội Công giáo là ‘lạc giáo = heretical” vì đã cho gọi Linh Mục là “Cha” ( Father, Père, Padre ) !
Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý này, Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium đã dạy rằng: “Linh Mục phải chăm sóc Giáo Dân như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn” ( 1Cr 4, 15; LG số 28 ).
Một điểm khác biệt nữa trong cách đọc và hiểu Kinh Thánh của Tin Lành là câu Phúc Âm Thánh Marcô kể lại một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người thì Đức Mẹ cà các môn đệ của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng: “Thưa Thầy có mẹ và anh em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy ( Mc 3, 32 ). Anh em Tin Lành đã căn cứ vào câu này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính Thống, vì họ cho rằng Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ “anh chị em” trong ngữ cảnh ( context ) trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng ( spiritual brotherhood, sisterhood ) và đây là cách hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin Lành.
         Sau hết, về mặt quyền bình, các Giáo Phái Tin Lành đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế. Chính vì không công nhận Đức Giáo Hoàng là Thủ Lãnh Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô nên đây là trở ngại lớn cho các nhánh Tin Lành muốn hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo.

Về Bí Tích:
         Tất cả các nhóm Tin Lành và Anh Giáo đều không có các Bí Tích quan trọng như Thêm Sức, Thánh Thể, Hòa Giải, Xức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession ). Và quan trọng hơn nữa, người sáng lập của họ là người thường ( Martin Luther, John Calvin, Henry XIII ) chứ không phải là chính Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã lập Giáo Hội của Chúa trên Đá Tảng Phêrô ( Mt 16, 18-19 ) và “Giáo Hội này tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phêrô và các Giám Mục hiệp thông với ngài điều khiển” như Thánh Công Đồng Vaticanô II đã nhìn nhận ( x. LG số 8 ). Cho nên các nhánh Tin Lành và Anh Giáo đều không có chức Linh Mục và Giám Mục hữu hiệu để cử hành các Bí Tích trên.
          Đa số các nhóm Tin Lành và Anh Giáo chỉ có phép rửa ( Baptism ) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi ( The Trinitarian Formula ) như nhóm Bahai Hullah, thì không thành sự ( invalidly ). Do đó, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức trên thì phải được rửa tội lại như người dự tòng ( catechumens ). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ phải tuyên xưng Đức Tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi.
          Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo và Tin Lành nói chung. Tuy nhiên, Giáo Hội Công Giáo vẫn hướng về các anh em ly khai này và mong ước đạt được sự hiệp nhất với họ qua nỗ lực Đại Kết ( Ecumenism ) mà Giáo Hội đã theo đuổi và cầu nguyện trong nhiều năm qua.
             Chúng ta tiếp tục cầu xin cho mục đích hiệp nhất này giữa những người có chung niềm tin vào Chúa Kitô nhưng đang không hiệp thông ( communion ) và hiệp nhất ( unity ) với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng Tông Đồ Phêrô, do Đức Thánh Cha, cũng chính là Giám Mục Rôma coi sóc và lãnh đạo với sự cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám Mục Đoàn ( College of Bishops ).

Lm. Phanxicô Xaviê NGÔ TÔN HUẤN

http://trungtammucvudcct.com/khac-biet-giua-cong-giao-chinh-thong-giao-va-anh-giao/
Tags: , , ,

Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2016

Tư Liệu Lịch Sử Về Biến Cố Đức Mẹ Hiện Ra Tại Trà Kiệu

            Tư liệu này có tên “Một trang sử đau thương ở giáo đoàn Trà Kiệu” là bản dịch bài viết “Une page de la persécution en Cochinchine” do LM. Geffroy, Hội Thừa Sai Paris, truyền giáo tại Nam Việt, viết đăng trên tuần báo “Missions Catholiques” ở Paris vào các ngày 03, 10 & 17/9/1886. Bản trích đăng này được lấy từ cuốn “Linh địa Trà Kiệu” (Phần IV Phụ Lục, từ trang 267-300) của hai tác giả Jos. M. PCĐ & Mattheo LVT.
Chúng ta biết rằng : Giáo dân Quảng Nam (nay là Quảng Nam Đà Nẵng) được chia thành 3 khu vực. Khu vực phía Bắc, gần Đà Nẵng, do quyền cai quản của Cố Thiên (Maillard). Khu vực ở giữa gần thủ phủ Quảng Nam, do Cố Nhơn (Bruyère) coi sóc. Còn khu vực phía Nam được giao phó cho một linh mục bản xứ là Cha Cân Du. 
Không hiểu vì sao mà cuộc nổi dậy của Văn Thân (tức phong trào Cần Vương) lại bắt đầu nổi lên ở Tư Ngãi (Quảng Ngãi), rồi mau lẹ lan tràn vào phía Nam, đến Bình Định. Trong khi đó, ở Quảng Nam, cuộc nổi dậy của Văn Thân lại chậm hơn. Sự chậm trễ này không biết có phải là do Trà Kiệu ở gần thủ phủ Quảng Nam hay không, hay vì sự hiện diện của một đại đội thủy quân lục chiến và một chiến thuyền Pháp ở Đà Nẵng. Thực ra, điều đó chúng ta không biết đích xác được. Nhưng thực tế là sau một tháng rưỡi xảy ra cuộc tàn sát giáo dân ở Tư Ngãi, giáo dân ở Quảng Nam có thể đi lại bình thường, bằng chứng là vào những ngày đầu tháng 8 (1885), một đoàn chừng 200 giáo dân ở khu vực Cố Garrin (Tư Ngãi) đã vượt qua phần đất phía Nam tỉnh Quảng Nam để chạy ra Trà Kiệu mà không bị gì cả. Tuy nhiên, trong thời gian này, nhiều tin đồn về một cuộc bách hại khủng khiếp đã lan đi khắp nơi. Chính Cố Thiên cũng đã nghe đồn rằng : Trà Kiệu bị Văn Thân bao vây ; nên vào ngày 01 tháng 8 năm 1885, Cha đã xuống Đà Nẵng báo tin cho đại úy đồn trưởng Ducres, để nhờ ông ta đi giải cứu cho Cố Nhơn. Quân giải cứu đến Trà Kiệu, nhưng không thấy một nghĩa quân Văn Thân nào cả, mà cũng chỉ nghe toàn tin đồn như những nơi khác mà thôi.
                       Đến ngày 15/8/1885 thì những tin đồn này lại càng dữ dội hơn, đến nỗi Cha Cân Du và hơn một nửa giáo hữu của Ngài phải chạy trốn vì quá khiếp sợ. Một số ra nương náu ở Trà Kiệu, một số ra tỵ nạn ở Đà Nẵng, một số khác lại lên Phú Thượng. Số còn lại, vì quá nghèo, nên họ đành phải ở lại quê nhà, thà bị quân Văn Thân giết hơn là phải chết đói ở Đà Nẵng hoặc nơi nào khác. 
Nhưng từ ngày 20 đến 25 tháng 8, thì những tin đồn khủng khiếp đó lại lắng xuống. Người ta bảo rằng Văn Thân Quảng Nam sợ quân Pháp trả thù nên không dám nổi lên như Văn Thân ở Tư Ngãi và Bình Định, nhiều giáo dân ở khu vực Cha Cân Du tưởng rằng bình yên đã trở lại, cả Cha Cân Du đang nương náu ở Trà Kiệu cũng chuẩn bị trở về. Ngài đã cho các chức việc (giáo chức) về trước để lo cho giáo xứ. 
Đến ngày 26 tháng 8 năm 1885 thì những tin đồn kinh khủng đó lại loan đi trở lại. Lúc này Cha Cân Du đã rời khỏi Trà Kiệu rồi, nhưng nhờ “linh cảm”, thay vì đi về khu vực của ngài ở phía Nam thì ngài lại đi ra hướng Bắc, tức Đà Nẵng, và ngài cũng vừa đủ thời gian để tới nơi an toàn. Còn giáo dân của ngài đã trở về nhà thì không được cái may mắn chạy thoát như ngài, vì khi họ định tháo lui thì mọi ngả đường đã bị ngăn chận. Họ đã bị tàn sát cùng với số giáo dân không thể đi lánh nạn được. Số giáo dân bị tàn sát trong dịp này trên 1000 người, gồm có 650 người ở khu vực Cha Du, 280 người ở khu vực quanh Trà Kiệu và khoảng 100 người ở quanh Phú Thượng.
                     Ngày 31 tháng 8 năm 1885, quân Văn Thân bắt đầu tập trung chiếm cứ khu trung tâm thủ phủ. Tại Quảng Nam, cuộc tàn sát cũng xảy ra một cách thảm khốc như ở Bình Định và các nơi khác. Một vài ngày trước đó, quân Văn Thân đã cử những cựu quan chức đến các vùng Công Giáo để phỉnh gạt giáo dân bằng cách hứa hẹn bảo đảm an ninh một cách tuyệt đối, với ý đồ là làm cho người Công giáo yên tâm không chạy trốn, chờ đến ngày đã điịnh, họ có dịp tàn sát cho tận hết. Ông Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu, chỉ huy trưởng quân Văn Thân ở Quảng Nam, đã đến các khu vực Công giáo ở phía Nam của tỉnh và cố dùng lời lẽ ngon ngọt để lừa phỉnh một số lớn giáo dân. Một cựu quan đại thần ở làng Nại Hiên, Đà Nẵng, lên lừa phỉnh khu vực Cố Thiên. Ông ta đến một làng dân bên Lương ở gần Phú Thượng và nhắn tin muốn gặp Cố Thiên. Cố Thiên trả lời rằng : nếu ông ta muốn gặp tôi thì đến nhà xứ chứ tôi không ra. Rồi người ta thấy chính vị cựu quan này đã chỉ huy tấn công Phú Thượng ngày 18/10/1885, và đã bại trận trong một cuộc kịch chiến tại đèo Lộc Hòa. Còn các quan chức ở Tỉnh đường cũng cam kết với Thiếu tá Gonec về sự trung thành của họ đối với Pháp quốc, cũng như xin bảo đảm cuộc sống bình thường cho người Công giáo, bằng cách quyết tâm lãnh đạo phong trào Văn Thân, và giữ vững an ninh trật tự. Vì tin những lời lừa gạt đó mà vị thừa sai đã bị sai lầm và mất cảnh giác về việc “muốn hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh”.
Giáo xứ Trà Kiệu bị bao vây vào ngày 01 tháng 9 năm 1885, sau ngày Văn Thân chiếm giữ thủ phủ Quảng Nam. Trà Kiệu lúc bấy giờ chưa có chuẩn bị tự vệ, vì Cố Nhơn (Bruyère) nghĩ rằng : Trận chiến sẽ không khủng khiếp hơn trận chiến ở Trung Sơn, Tư Ngãi. Ở đó chỉ có 800 đến 900 giáo dân, kể cả người già và trẻ em, mà đã có thể cầm cự với quân Văn Thân ròng rã hơn một tháng trời. Với Trà Kiệu, ngài chỉ cần chống cự trong 2 hoặc 3 ngày để xin quân Pháp đến giải cứu, vì đại ý Ducres đã hứa với ngài một cách chắc chắn rằng, khi nào ngài bị tấn công, đại úy sẽ lập tức bay vào tiếp cứu ngay. Lời hứa đó cũng được ông ta nhắc lại trong một lá thư gửi cho ngài vào giữa tháng 8. Vì thế, Cố Nhơn một phần hi vọng vào sự cứu viện này, nhưng phần lớn là Cha hoàn toàn tin cậy vào sự che chở của Đức Trinh Nữ Maria. Cha tin là chỉ có Mẹ luôn luôn hiện diện bên Cha. Cha cũng còn nghĩ rằng : thà ở lại Trà Kiệu để cầm cự ít ngày còn hơn là đưa giáo dân đi lánh nạn ở bãi cát Đà Nẵng, không nơi trú ngụ, không lương thực thực phẩm.
Giáo xứ Trà Kiệu có được 4 khẩu súng nạp hậu và mỗi cây chỉ có 10 viên đạn, với 5 khẩu súng bắn đá do Cố Thiên nhường lại, và một khẩu súng hỏa mai. Thêm vào đó, trong những ngày đồn đại khủng khiếp, giáo dân đã tự rèn một số giáo mác để tự vệ. Toàn giáo xứ lúc đó có 370 nam nhơn có thể cầm vũ khí để tham chiến (tuổi từ 16 đến 60) và được chia ra làm 7 đội. Các phụ nữ khỏe mạnh, độ 500 đến 600 chị, được xếp vào đội dự bị (đội 8). Sau khi đã chỉ định địa điểm phòng thủ cho từng đội, Cố Nhơn hoàn toàn phó thác và trông cậy vào Chúa và Mẹ.
                      Với địa hình địa thế của Trà Kiệu, việc phòng thủ rất bất lợi, vì muốn chiếm giữ những cao điểm để khống chế toàn giáo xứ, thì phải có một lực lượng đông gấp nhiều lần so với lực lượng hiện có. Về phía Tây, có đỉnh đồi rặng Kim Sơn (gọi là Hòn Bằng) cách nhà thờ chừng 120 mét. Còn về hướng Đông, cách đồi Kim Sơn 1 cây số (1 km) có hòn Bửu Châu (gọi là Non Trọc hay Non Trược) là một quả đồi hình nón nhô lên cao chừng 60 mét đến 70 mét (giáo xứ Trà Kiệu nằm giữa hai ngọn đồi này). Về phía Nam, cách một cánh đồng lúa có dãy thành Chiêm, rộng và cao, dấu vết của thành lũy kinh đô Chàm ngày xưa còn lại. Quân Văn Thân đã lập tức chiếm cứ các cao điểm trọng yếu này, nên việc phòng thủ của giáo xứ rất khó khăn. Còn về mặt Bắc, thì có một bãi cát rộng giáp ranh với tuyến phòng thủ của giáo xứ, mà mùa hè thì khô cạn, còn mùa đông thì đầy nước.
                  Vào ngày 01 tháng 9 năm 1885, khoảng xế trưa, người ta thấy quân Văn Thân từ bốn phía ùn ùn kéo đến, làn người đông nghịt vây quanh giáo xứ hò hét inh ỏi. Họ bao vây như thế ròng rã suốt 21 ngày đêm.
Chiều hôm đó, địch chưa tấn công. Họ hí hửng chiếm cứ những cao điểm và lo củng cố những vị trí chiến đấu. Họ chỉ bắn một vài phát súng vu vơ. Giáo dân Trà Kiệu lập tức tiến lên giữ ngọn đồi Kim Sơn và có ý giữ cao điểm này đến cùng. Thế nhưng vào ngày hôm sau, tức ngày 02/9/1885, vì khiếp sợ trước lực lượng quá đông đúc của Văn Thân, nên giáo dân không dám ở lại trên đồi cao này nữa. Sau một trận chiến giả vờ, họ đã tháo chạy xuống đồi một cách hoảng sợ, và tìm cách trở vào bên trong vị trí phòng thủ của giáo xứ. Mặc dầu không phải đương đầu với quân Văn Thân, nhưng vì quá hoảng sợ tháo chạy bán sống bán chết, nên đã bị té chết mất 4 người. Chỉ mỗi cái thất bại này cũng đủ làm cho họ thất đảm, tinh thần nguy ngập và chao đảo. Họ từ chối đi chiến đầu và quyết buông vũ khí để sớm cam chịu số phận bất hạnh của mình. Họ tập trung trước nhà Cha xứ và xin ngài ban cho các phép sau hết. Họ nói : “Chúng con phải chết, vì tất cả sự tự vệ đều vô ích, chúng con muốn chết ngay tại nhà thờ này hơn là ở chỗ nào khác”.
Đây là một trong những giờ phút đau buồn nhất của Cố Nhơn, mặc dù với tất cả cố gắng, ngài cũng không thể nào khơi lại sự can đảm của họ. Vào buổi chiều ngày 02/9, khi biết quân Văn Thân đang tiến sát vào phía Đông, Cố Nhơn sai một thanh niên mang lệnh cho vị chỉ huy đội 2 là nên bỏ những mảnh vườn riêng lẻ ở dưới chân đồi Bửu Châu, vì khó chống giữ, để lui vào phòng thủ ở bên trong đường ranh của các lũy tre, vừa kín đáo vừa hạn hẹp. Cậu thanh niên đó đã bóp méo sự thật bằng cách nói dối rằng : Cha ra lệnh bỏ tất cả để tập trung về nhà thờ nhận lãnh các phép sau hết và chờ chết. Đây không phải là lệnh của Cha xứ, mà chính cậu ta phịa ra theo yêu cầu chung của giáo dân. Nhưng may thay, vị chỉ huy đội 2 không tin vào lời phịa này, và cùng lúc đó ông ta thấy quân Văn Thân áp sát rất gần, ông mới ra lệnh cho một giáo dân (tự vệ quân) bắn vào chúng. Người vệ quân này núp sau một bụi tre, quan sát rất rõ, nên đã bắn vào toán quân đang kéo khẩu súng đại bác. Người đi đầu ngã xuống, lập tức những người kéo súng ở phía sau vất súng mà tháo chạy. Đội 2 đã thu được khẩu súng đó. Chiến thắng này cũng không làm cho giáo dân lên tinh thần được. Ban đêm, họ không chịu canh gác mà lui về nhà than khóc, hoặc là tập trung về nhà thờ chờ chết không chịu ra chống cự nữa. Nếu đêm hôm đó quân Văn Thân biết được tinh thần giáo dân suy sụp như thế và họ tổ chức tấn công, thì chắc chắn trong nháy mắt họ có thể tàn sát tất cả mà không ai dám chống cự. Nhưng may thay, kế hoạch của họ là không tổ chức tấn công ban đêm, vì sợ sẽ có một số người, nhờ bóng đêm mà thoát ra ngoài được. Trái lại, ban đêm họ tổ chức canh gác rất nghiêm ngặt, và không ngừng đanh trống gióng mõ. Cứ 5 phút thì người chỉ huy của họ lại bắc loa mà kêu to : “Ớ các đội, các vệ, phải canh giữ cho nghiêm nhặt, đừng cho đứa nào thoát nghe !”
Tiếng a-lô, a-lô đó vang lên nghe khủng khiếp quanh giáo xứ, rồi cứ lập đi lập lại suốt đêm và kéo dài trong 21 đêm như thế. Điều đó đã làm cho những người gan dạ nhất cũng phải lạnh người vì khiếp đảm. Chính Cố Nhơn khi nghe những lời a-lô đó cũng thấy dâng lên trong tim ngài một nỗi buồn vô tả. Nhưng lập tức ngài hướng tâm hồn lên cùng Mẹ Maria, người Mẹ đã từng che chở cho ngài rất nhiều lần, và chính trong cuộc bao vây khủng khiếp này, một lần nữa ngài lại được sự che chở huyền diệu của Mẹ. Mẹ là nơi nương tựa duy nhất trong những giờ phút tuyệt vọng này, nên ngài đã khẩn thiết cầu xin Mẹ một cách chân tình, và ngay lập tức ngài cảm thấy một niềm tin tưởng vô biên. Chính nhờ sự che chở quyền uy của Mẹ mà cha đã đứng vững đến cùng, và cũng chính trong đêm ngày 02 và 03/9, giáo dân bắt đầu lên tinh thần đôi chút. Vì thế, vào lúc nửa đêm, cha đã gọi các vị chỉ huy đến nhà xứ và báo cho họ biết là không còn cách nào khác hơn là phải chiến đấu tự vệ, và ngài đã quyết định như thế. Chẳng mấy chốc từ người này đến người khác đều đồng thanh kêu lên : “Phải chiến đấu, vì đó là ý muốn của Thiên Chúa và Mẹ Đồng Trinh”. Họ lại bảo với nhau : “Chúng ta phải nghe lời cha, và nếu phải chết thì chúng ta sẽ chết với khí giới trong tay”.
                          Do vậy mà tối đó, người ta bàn tính chuẩn bị cho trận ác chiến vào ngày mai. Họ lo nấu cơm rất sớm, vì sợ trong ngày không có thì giờ để nấu. Và đúng như thế, ngày 03 tháng 9 hôm đó thật khủng khiếp. Họ phải giao chiến từ sớm tinh sương cho mãi đến chiều tối. Năm lần giao chiến là năm lần địch quân bỏ chạy tán loạn. Nhưng sau trận đánh thứ 5, tuy thắng trận, mà tinh thần giáo dân bị suy sụp, vì lúc này họ đã quá mỏi mệt và thấy quân Văn Thân càng lúc càng đông thêm. Trong khi đó, thì ngược lại, quân Văn Thân cũng khiếp sợ giáo dân nên vừa đụng độ là họ tháo chạy tán loạn. Họ chán nản và thường tụ tập từng nhóm mà oán trách chỉ huy của họ. Còn giáo dân Trà Kiệu thì tin chắc là không thể nào chống cự nổi, nên họ kéo về trước nhà Cha xứ xin Cha cho họ buông khí giới và vào nhà thờ chờ chết. Một vài viên chức lại đưa ra ý kiến “đầu hàng” bằng cách đi đàm phán với quân Văn Thân. Họ sẽ bỏ tất cả nhà cửa, ruộng vườn, của cải, chỉ xin một điều là cho họ ra Đà Nẵng bình an vô sự. Nhưng lại không có ai dám liều mình đi đàm phán với quân Văn Thân. Cuối cùng họ nghĩ ra một cách là viết các điều kiện đó bằng chữ lớn trên một vuông lụa to rồi cho người đem treo phía trước mặt quân Văn Thân, ngay đầu lũy tre thay thế cho lá cờ lệnh. Lúc đó thì nhà thờ đầy ắp người, họ từ chối không đi chiến đấu nữa ; còn Văn Thân thì đang tiến gần đến tuyến phòng thủ phía Bắc. Cha xứ cố gắng hết sức cũng không thể nào đưa họ trở lại vị trí phòng thủ. Họ quỳ xuống trước mặt Cha, vừa khóc vừa lạy, xin Cha ban các phép sau hết. Quân Văn Thân từ trên đồi Kim Sơn đã nghe họ than khóc nên chúng mai mỉa rằng : “Cố Thiên đến cứu chúng bay đó !”. Trong trường hợp nguy cấp và tuyệt vọng đó, chính nhờ ông Phổ, chỉ huy đội 1, đã cứu nguy cho giáo xứ. Ông không sợ hãi và không bao giờ nhụt chí, ông không ngừng lặp đi lặp lại : “Phải nghe Cha xứ, phải nghe Cha xứ”. Ông nói thêm : “Thật là khốn nạn nếu như chúng ta buông khí giới, vì quân Văn Thân không đời nào cho chúng ta ra Đà Nẵng một cách an toàn. Ai muốn đàm phán thì đi đàm phán, còn chúng tôi, luôn giữ chặt khí giới và phải chiến đấu cho đến cùng”.
Thế rồi tuy mệt nhoài, ông cũng đã tập trung lính của ông lại và dẫn ra giao chiến với quân Văn Thân đang tiến về phía Bắc. Cùng lúc đó, thầy Phan, vì vừa nghe được những lời mai mỉa của quân Văn Thân, nên ông đã lặp lại những lời đó một cách nghiêm trang để khích lệ và trấn an tinh thần những người còn đang ẩn náu tại nhà thờ rằng : “Cố Thiên đang kéo quân đến, chúng ta phải mau ra đẩy lui quân tấn công, để ngài có thể vào được”. Họ nghe thế và tin là thật, nên lại cầm khí giới chạy theo đội quân của ông Phổ. Ông đội Phổ đến cổng ra vào vừa đúng lúc viên chỉ huy đội 2 bắt đầu nói chuyện đàm phán. Khi chỉ huy đội 2 tuyên bố đầu hàng thì đội Phổ chặn lại ngay và la to lên : “Không, không, chúng tôi không bao giờ đầu hàng. Chúng tôi hoặc chiến thắng hoặc phải chết”.
                   Cùng lúc đó ông mở cửa dẫn đầu đội quân ào ạt xông thẳng vào quân Văn Thân một các hùng dũng, làm cho quân Văn Thân khiếp sợ chạy trối chết. Chúng ta cũng biết rằng, ngày tấn công thứ 3 này (ngày 03/9) rất khủng khiếp đối với giáo dân Trà Kiệu, vì ngày đầu và ngày thứ hai, giáo dân chỉ phải đương đầu với dân bên lương ở các làng quanh đó. Nhưng ngày thứ 3 này thì tất cả lực lượng ở thủ phủ Quảng Nam đều tập trung về đây rất đông. Nếu như họ có tinh thần chiến đấu không bỏ chạy một số lớn, thì quân số của họ có thể đông gấp 2 gấp 3 hiện nay, và có thể đè bẹp Trà Kiệu trong phút chốc. Thế nhưng, tại sao Trà Kiệu lại thoát khỏi cơn giáo nạn này ? Một phần là do sự chia rẽ của Văn Thân. Họ có nhiều vị chỉ huy khác nhau và mỗi vị chỉ huy chỉ lo riêng đơn vị của mình. Trong lúc đơn vị này giao chiến thì các đơn vị khác dựng giáo đứng xem và hò reo. Họ không hề hỗ trợ nhau và cũng không bao giờ nghĩ đến việc chận đánh tập hậu giáo dân, vì giáo dân thường rượt đuổi quân địch chạy rất xa. Họ không có kế hoạch tổ chức chung, nghĩa là không có ai chỉ huy tối cao, nên không có vị nào nhường vị nào, giữa họ chỉ có sự ganh tị chứ không có sự thỏa hiệp với nhau.
Ban đêm họ chỉ lo canh gác chứ không tấn công. Và từ hai ngọn đồi họ đặt súng đại bác bắn chừng chừng vào giáo xứ, và thường bắn vào chỗ có ánh sáng hoặc chỗ có tiếng chó sủa. Ban ngày họ dùng hai ngọn đồi này làm đài quan sát, nhất là họ cố quan sát để khám phá ra chỗ ở của Cố Nhơn. Vì thế mà ngài phải cạo râu và cải trang, nhưng cũng không sao tránh được. Ngài luôn bị chúng phát hiện : “Tây dương đạo trưởng, Tây dương đạo trưởng, bắn, bắn !”, chúng la lên và lập tức một quả đạn xẹt qua bên tai ngài. Cha quản xứ đã trải qua suốt thời gian bao vây với biết bao nhiêu là đau buồn, thất vọng và cay đắng. Ban ngày, ngài xuống tuyến phòng thủ của giáo xứ để xem xét những chỗ sơ hở yếu thế và kịp thời chỉ đạo việc chiến đấu. Vào lúc ngưng chiến đấu thì ngài lo chăm sóc những người đau yếu. Nhà thờ cũng như nhà xứ đều chật cứng. Từ 7, 8 ngày nay, Cha không thể ăn uống nghỉ ngơi gì được, nhất là vào ban đêm, với những tiếng kêu thét khủng khiếp của những tên lính canh, rồi tiếng nổ vang trời, làm sao Cha có thể yên tâm nghỉ ngơi được ? Ban ngày, ngài cũng cố nghỉ một chốc, nhưng rồi lại chợt giật mình trỗi dậy. Ngài đã nói với tôi rằng : Trong suốt những ngày đêm dài vô tận đó, ngài đã khóc rất nhiều, nhưng thường là khóc vì vui mừng. Trước sự che chở hiển nhiên của Mẹ Đồng Trinh, tim ngài phập phồng nức nở, rồi nước mắt sung sướng cứ ràn rụa, và sau đó ngài lấy lại được sự bình tĩnh.
                      Ngày 04/9, giáo dân đã đẩy lùi được hai đợt tấn công, một vào buổi sáng, một vào buổi chiều. Khi quân Văn Thân tiến sát đến vị trí phòng thủ của giáo xứ được làm bằng tre tươi, thì giáo dân lập tức xông ra và bắt đầu giao chiến. Không có trận chiến nào kéo dài quá 10 phút. Văn Thân tuy quân số đông nhưng sớm mất tinh thần rồi quay lưng chạy thoát. Giáo dân Trà Kiệu dần dần bạo dạn hơn và thường phóng đuổi theo, nếu không giết được nhiều quân địch thì cũng thu được một số đại bác, súng ngắn, do lính đào tẩu bỏ lại để chạy thoát thân. Có khi giáo dân cũng gặp cuộc chống cự mãnh liệt, giáo mác giao nhau mà không bên nào dám lui giáo để đâm, vì sợ chính mình lại bị đâm trước. Giáo dân đã dùng mưu mẹo, họ la lên : “Đổ rồi, đổ rồi, chúng chạy trốn. Chúng ta can đảm lên. Giê-su, Maria, hè ! hè !”. Nghe thế, quân Văn Thân đồng loạt ngước mắt nhìn xem thử cái gì đổ, thì ngay giây phút bất ngờ đó, giáo dân ta lui giáo để đâm giết chúng và như thế là quân Văn Thân hoảng sợ lo chạy thoát thân. Còn đội quân dự bị gồm toàn đàn bà phụ nữ, khi có dịp tham chiến họ cũng nhanh chóng tiếp ứng các cuộc giao tranh. Khi trông thấy những người phụ nữ này hùng dũng xông vào chiến trận thì quân Văn Thân run chân tháo chạy trước khi các bà lao đến. Và quả thật như thế, trông họ có vẻ dũng mãnh, với mái tóc tung bay sau lưng, họ nhảy xốc tới, vung gươm giáo hay dao rựa và kêu lên : “Hè, hè, Giêsu Maria Giuse, thương chúng con, che chở chúng con”. Dù bở hơi tai để rượt đuổi quân địch, nhưng họ vẫn tự hào, khi giết được quân giặc họ trở về tạ ơn Đức Mẹ. Từ khi bắt đầu bị bao vây, Cố Nhơn đã đặt một tượng ảnh Đức Mẹ trên cái bàn để ngay giữa nhà cha với hai cây đèn sáp hai bên. Tất cả những lần phải ra trận chống đỡ quân tấn công, giáo dân Trà Kiệu đều thắp đèn và quỳ cầu nguyện. Ai không thể đi chiến đấu được, như già cả và trẻ em, thi quy lần chuỗi chung với nhau, và khi quân địch bị đẩy lui thì các chiến sĩ trở về tạ ơn Mẹ. Họ quỳ gối trước ảnh Mẹ, tay vẫn còn cầm gươm giáo, có cái còn vấy cả máu, và họ cầu nguyện rất lâu. Có khi đang cầu nguyện họ phải gấp rút ra đi để ngăn chận cuộc tấn công mới. Nhưng họ không bao giờ quên trở lại để cám on Đấng phù trợ cho chiến thắng mới của họ. Lòng tin tưởng dần dần khơi dậy và người ta bắt đầu hy vọng. Họ không còn nhớ đến cái ngày thứ ba (03/9) hoàn toàn tuyệt vọng đó nữa.
Ngày 05 và 06 tháng 9, quân Văn Thân chỉ bao vây canh gác chứ không mở các cuộc tấn công. Thay vì tấn công thì họ lo xây thành đắp lũy ở phía Bắc, bên kia bãi cát, mục đích là để công cuộc bao vây được nghiêm nhặt hơn, đề phòng sự trốn thoát ban đêm, và đồng thời tạo cho phía giáo dân mất đề cao cảnh giác. Ngoài ra họ còn có mục đích khác là buộc binh lính của họ phải chiến đấu vì khi bị rào giậu ngăn cản ở sau lưng, thì binh lính không thể chạy trốn dễ dàng được. Đã nhiều lần người ta nghe các vị chỉ huy quở trách quân lính của họ là khiếp nhược và rối loạn ngay khi vừa đụng độ. Người ta có thể nghe được cuộc đối thoại của họ rõ ràng vì họ đóng quân trên ngọn đồi Kim Sơn rất gần nhà thờ. Khi hàng rào, thành lũy của họ đã làm xong, họ lại tăng cường thêm nhiều trại quân, điếm canh, dọc theo tuyến lũy. Sự việc đó không làm cho giáo dân lo lắng mấy, nhưng vào chiều ngày thứ 6 (06/9), khi thấy quân Văn Thân mang rất nhiều bó rơm rạ đến chất trên bãi cát, giữa hai lằn ranh phòng thủ, thì giáo dân mới thấy lo ngại. Dọc theo lũy tre phía Bắc giáo xứ, từ đồi Kim Sơn đến cồn đất dưới chân hòn Non Trược, được phủ đầy rơm rạ. Họ có ý muốn đốt lũy tre bao bọc giáo xứ. Thật là nguy hiểm, cần phải phá hủy số rơm rạ này và không cho chúng đưa rơm rạ đến gần lũy tre phòng thủ của giáo xứ. Do đó, giáo xứ đã quyết định một trận tử chiến vào ngày mai (07/9), và mọi người đã chuẩn bị sẵn sàng.
                          Ngày 07/9, từ sáng sớm, sau khi đã cầu xin Mẹ Maria giúp đỡ và được Cha Xứ khích lệ tinh thần, giáo dân tiến ra cổng phía Bắc, và ở đó, giáo mác cầm tay, họ chờ lệnh tấn công. Khi cánh cửa vừa mở ra, họ đồng loạt xông vào quân Văn Thân, với một sự dũng mãnh vô song, đồng thờ reo hò chiến đầu. Quân Văn Thân lập tức chạy đến để đẩy những bó rơm rạ ra đến sát lũy tre. Chỉ huy của họ là cậu Thiên (có lẽ là Ông Ích Đường), con trai tướng Ông Ích Khiêm (Ông Ích Khiêm đã chống giữ Thuận An với tướng Courbet), quá khiếp sợ trước sự gan dạ của giáo dân, nên đã vượt qua tường rào của chúng để tháo chạy một cách xấu hổ. Và cũng vì ông ta sợ giáo dân đuổi theo, nên sau khi qua khỏi tường rào, ông liền đóng sập cửa lại, bỏ mặc cho số phận của quân lính ông. Quân Văn Thân bị vướng tường rào phòng thủ của chính họ, nên không thể tháo chạy được, đã bị giáo dân đâm chết rất nhiều. Tiếp đó, giáo dân tiến lên phá hủy rào giậu, doanh trại, điếm canh và thu tất cả chiến lợi phẩm ở trong các doanh trại. Đội quân dự bị phụ nữ (đội 8) được nổi tiếng trong ngày chiến thắng vẻ vang này. Phía giáo dân chỉ có vài người bị thương, còn phía Văn Thân, người ta không biết chính xác là có bao nhiêu người chết và bị thương, vì họ đã mang rất nhiều thương binh tử sĩ ra khỏi chiến trường, đến nỗi có một toán viện binh từ phía bắc kéo đến, nhưng thấy khiêng thương binh và tử sĩ về quá nhiều, nên họ khiếp sợ mà không dám đến tiếp cứu nữa. Riêng về xác chết bỏ lại chiến trường là 36 xác. Tất cả rào giậu, rơm rạ, doanh trại đều bị giáo dân phóng hỏa đốt sạch, khói lửa bốc cáo, khiến cho nhiều người tin rằng Trà Kiệu đã bị thiêu hủy. Chắc các bạn cũng có thể cảm nhận được nỗi vui mừng to lớn của giáo dân Trà Kiệu, và với tâm tình sốt sắng, họ vội vàng đến tạ ơn Đức Mẹ về chiến thắng vẻ vang của mình như thế nào rồi.
                           Hôm sau, ngày 08/9, lễ Sinh Nhật Đức Mẹ, lại là một ngày khủng khiếp nữa. Thánh lễ sáng vừa xong thì được tin quân Văn Thân tấn công vào hướng Nam. Họ kéo đến rất đông, tràn ngập cả cánh đồng và lũy Chiêm Thành, nơi giáp ranh của giáo xứ. Về phía này cũng như ở phía Đông, Cố Nhơn bắt phải bỏ nhiều khu vườn nhà giáo dân, để khỏi phải phòng thủ một phạm vi quá rộng lớn. Các điểm phòng thủ ở phía này cũng rất yếu ớt, không như ở phía Bắc, có lũy tre kín đáo, mà chỉ có những rào giậu sơ sài có thể vượt qua một cách dễ dàng. Tuy nhiên, quân Văn Thân ít tấn công hướng này, có lẽ vì khi tháo chạy thì rất vất vả nguy hiểm. Ở phía Bắc thì không có gì cản trở sự tháo chạy của họ, trong khi đó ở phía Nam có những cánh đồng lúa sắp chín, muốn chạy qua được đó không phải là chuyện dễ dàng. Nhưng cuộc tấn công hôm nay rất ác liệt, đến nỗi giáo dân không thể chống cự được ngay trận đụng độ đầu tiên. Đơn vị trách nhiệm phòng thủ phía Nam phải bỏ lần từng mảnh vườn, từng mảnh vườn. Quân Văn Thân ồ ạt tiến đến điểm phòng thủ Phước Viện (Nữ tu viện Mến Thánh Giá), và họ đông không đếm xuể. Cũng lúc đó, từ hai ngọn đồi Kim Sơn và Bửu Châu, quân Văn Thân đã không ngừng bắn xối xả vào giáo xứ, đạn rơi khắp nơi. Cố Nhơn chạy ngược chạy xuôi để tìm người cứu viện cho phía Nam. Cuối cùng, đội quân dự bị (phụ nữ) “danh tiếng” cũng phải chuẩn bị hàng ngũ, tiến đến khu vực ở giữa Phước Viện và Cô nhi viện để giáp mặt với quân thù. Cùng lúc đó, một toán khác âm thần tiến qua phía tay phải, sát bờ suối. Quân Văn Thân giao chiến rất mãnh liệt, nhưng khi giáo dân đồng loạt tấn công mặt trước và hai bên hông thì chúng chùn chân và rồi tháo chạy tán loạn kể cả những người gọi là gan dạ nhất. Ngày hôm đó, đội quân phụ nữ lại rất xuất sắc và hiển hách, vì họ đã thực sự cứu nguy cho giáo xứ. Các bà nói : “Không có chúng tôi, tất cả thế là xong, vì chúng tràn đến quá đông mà các ông không sao chống cự nổi”. Còn quân Văn Thân trận đó thiệt hại rất lớn, lớn hơn số liệu người ta ghi lúc ban đầu, bởi vì một tháng sau đó, khi giáo dân đi gặt lúa, họ gặp 14 xác chết còn bỏ lại trong cánh đồng sát chân thành Chiêm. Quân Văn Thân hôm đó rất tức giân vì không thể nào tấn công vào “sào huyệt” của giáo xứ, nên từ trên đồi cao Kim Sơn họ chưởi bới va văng xuống đủ lời nguyền rủa. Và cũng không ai ngăn cản họ tự tố cáo nhau, tự chê trách mình không can đảm bằng những người phụ nữ công giáo. Nhưng thật bất hạnh cho các tín hữu đáng thương, vì chưa có thể chấm dứt được những khốn đốn của họ. Họ đã làm nên những chiến công phi thường, nhưng họ không sao đạt được sự giải cứu. Sau mỗi trận đánh, nỗi kinh hoàng mà quân Văn Thân gieo rắc lập tức lại tràn ngập hồn họ. Vòng vây mà họ đã bẻ gãy thì trong chốc lát lại được lập lại. Tuy nhiên, giáo dân cũng biết rõ rằng : sự hăng say của Văn Thân bắt đầu giảm sút, nên cũng vững tin đôi chút. Giáo dân đã nghe chúng nguyền rủa lẫn nhau, phàn nàn chỉ huy của chúng, kêu khóc và thất vọng, nhất là họ tranh cãi nhau về việc phân chia lương thực không được công bằng. Vì có những vị chỉ huy khác nhau, nên họ cũng chia thành nhiều nhóm riêng rẽ. Nếu có nhóm nào bắt được con bò hay con trâu, thì họ làm tiệc tùng cho riêng nhóm của mình, trong lúc đó những nhóm khác vẫn phải chịu khổ cực thiếu thốn, vì thế mà họ lại ghen tị, nguyền rủa nhau. Nước uống cũng thiếu trầm trọng, không bao giờ và không thể nào mang đến cho đầy đủ. Vì vậy, ngay với chính họ cũng đã bất mãn với nhau và rất dễ đưa đến hành vi chống đối. Trong những trận giao tranh, thay vì chiến thắng, họ đã chiến bại. Đại bác, súng hỏa mai, cũng không giúp gì nhiều mà có khi còn gây nguy hại nữa. Trong lúc này, họ mới nghĩ rằng : Với những khẩu “thần công” ở thủ phủ Quảng Nam mới chiến thắng Trà Kiệu một cách mau lẹ được ; mà ngay từ khi bắt đầu tấn công, họ đã không kéo đến, vì theo họ thì không cần phải dùng đến thân công cũng đè bẹp được Trà Kiệu ngay. Vả lại, kéo thần công lên đến Trà Kiệu cũng rất gian nan, vất vả. Vì thế mà bây giờ họ hối tiếc và quyết định kéo thần công về.
Ngày 09/9 là ngày họ dành cho việc đi kéo thần công về và đặt chúng trên hai đỉnh đồi.
Sang ngày 10/9 thì họ bắt đầu nã thần công thật khủng khiếp, vang dội cả tỉnh. Ở Phú Thượng, cách Trà Kiệu 40km, giáo dân nghe nổ rất kinh hoàng. Chính Cố Thiên cũng tin chắc rằng “đồng nghiệp” của ngài và giáo dân Trà Kiệu đang gánh chịu số phận thương đau. Tâm hồn ưu tư sầu thảm, cha leo lên núi Phú Thượng để xem thử phía Trà Kiệu có bốc cháy không. Cha biết rằng số phận Trà Kiệu được gắn liền vào số phận của Phú Thượng. Mặc dù lần đầu Phú Thượng kháng cự được, lần hai cũng có cơ may để kháng cự lại, nhưng một khi Trà Kiệu bị tàn sát rồi thì Phú Thượng rồi ra cũng bị tàn sát như vậy. Từ trên đỉnh cao, Cha không thấy lửa và cũng không thấy khói, nhưng tiếng súng thần công thì rất khủng khiếp, đến nỗi cha không thể nào tin được Trà Kiệu có thể chống cự nổi. Khắp nơi, kể cả Đà Nẵng nữa, khi nghe những tiếng nổ khủng khiếp đó, người ta bàn tán xôn xao là Trà Kiệu đã bị bình địa. Tuy nhiên, nhờ ơn Chúa, Trà Kiệu không hề hấn gì, vẫn đứng vững và kháng cự anh dũng lại sự điên cuồng của quân Văn Thân.
Thần công của chúng được đặt trên hai ngọn đồi (Kim Sơn và Bửu Châu) và chủ yếu là bắn vào nhà thờ, nhưng đạn lại đi từ đồi này qua đồi kia, giết hại chính quân của họ. Đúng ra thì với số đạn mà người ta đã bắn có thể dằm nát  cả khu nhà thờ ra, nhưng thật lạ lùng, nhà thờ không hề hấn gì cả. Ngoài nhà thờ ra, họ còn nhắm bắn phá nhà nguyện của Phước Viện và nhà Cha Xứ. Quân Văn Thân đã biết rõ cha xứ thường ngồi tại một chiếc bàn đặt ngay giữa nhà, và chính nơi đây đã bị 5 quả đạn đại bác, từ đầu này đến đầu kia. Ngọn đèn treo ở phía trên bàn của Ngài bị bể tan, những bức điêu khắc và tranh ảnh treo ở vách ngăn ở phía sau bị phá hủy, rách nát. Có lúc ở trên đồi, quân Văn Thân đã reo hò chiến thắng. Chúng kêu lên : “Tây dương đã chết, tây dương đã bị giết”. Nghe thế, cha xứ bước ra ngoài mái hiên và nói lên với chúng : “Không dễ gì giết được tôi, các ông xuống đây đọ sức với tôi thì sẽ biết”. Cha nói vừa dứt lời thì một quả đạn bay vèo đâm vào cây cột sát bên cạnh ngài. Biết rằng cha xứ là linh hồn của cuộc chống cự nên Văn Thân tìm mọi cách, với bất cứ giá nào, cũng phải giết cho được cha xứ. Một phần thưởng rất lớn, từ 20 đến 30 nén bạc (tương dương 1800 đến 2000 quan Pháp) cho ai bắt sống hoặc giết được ngài. Ba lần ngài bị bắt hụt. Ban đêm quân Văn Thân lợi dụng bóng tối thâm nhập vào giáo xứ và len lỏi đến gần nhà cha. Khi gặp ngài, chúng cố bắt sống, nhưng nhờ sự nhiệt tình của giáo dân nên ngài được cứu thoát. Tất cả những tình tiết cảm động này, bây giờ cha Bruyère (Cố Nhơn) kể lại với một giọng điệu vui vui, nhưng chắc lúc đó ngài không thể cười được.
Sau những trận đại pháo, ngài lại rời khỏi nhà xứ để đi chăm sóc các bệnh nhân và tìm chỗ nghỉ ngơi cho những người bị thương đang nằm ở nhà thờ. Và cũng rất may ngày hôm đó không có trận giao tranh nào cả. Quân Văn Thân đang tập trung quan sát thành quả những trận đại pháo vừa qua, nhưng họ sững sờ khi trông thấy mọi nơi đều y nguyên, mặc dù họ đã dốc hết sức, nhưng tất cả hãy còn đứng vững. Trong các cổ đại pháo, có một khẩu đường kính rất lớn, và được đặt rất gần, khoảng 100 mét, nhưng chỉ bắn trúng nhà thờ có một quả và trúng vào cái hoa thị nhỏ ở phía sau bàn thờ, còn những quả đạn khác lại đi quá cao. Nhưng đó không phải vì nhắm không chính xác, xạ thủ là một quan chức rất quen sử dụng đại bác. Hắn ta đã thú nhận sau đó rằng:muốn nhắm một bà đẹp mặc đồ trắng đứng trên nóc nhà thờ, mà tất cả đều đi quá cao, trừ có một quả.
Suốt ngày hôm đó và cả ngày hôm sau, quân Văn Thân trên đồi Kim Sơn không ngừng kêu lên :“Thật lạ lùng, có một người đàn bà luôn đứng trên nóc nhà thờ, bà rất đẹp mà ta không sao bắn trúng”.
Phải chăng đó là một phép lạ tỏ tường của Đức Mẹ, phải chăng Đức Mẹ đã che chở cho mọi người đang ẩn náu trong thánh đường được dâng hiến cho Trái Tim Vẹn Sạch của Mẹ. Tôi không dám loan báo một sự việc quan trọng như thế, mà tôi chỉ xác tín rằng: quân Văn Thân trong suốt hai ngày liền, họ không ngừng lập đi lập lại rằng : Họ thấy một người đàn bà đứng trên nóc nhà thờ. Khi thì họ nói với sự kính trọng và gọi bà là MỘT BÀ ĐẸP MẶC ĐỒ TRẮNG, khi thì họ tức giận, nguyền rủa, văng tục, vì không sao bắn trúng bà. Giáo dân khi nghe họ nói thế cũng cố nhìn lên nóc nhà thờ, cả cha xứ nữa, nhưng không ai được thấy. Vả lại, tại đây không phải chỉ có một dấu lạ như thế, mà người ta cũng đã nghe đến nhiều dấu lạ tương tự. Tôi muốn nói đến “đạo quân trẻ em”, một đạo quân mặc áo trắng hay đỏ, tiến đến như một đạo quân hùng dũng, chống lại với Văn Thân. Đã hơn một lần, quân Văn Thân kêu lên rằng : Họ không chỉ đánh với người Công giáo, mà còn đánh với hàng ngàn trẻ em đến tiếp ứng khi giáo dân xuất trận. Các em này đến từ trời cao và xuống dọc theo lũy tre khi người Công giáo xuất hiện. Chắc chắn là không phải tất cả những lần xuất trận đều có sự việc lạ lùng đó, mà giáo dân Trà Kiệu chỉ nghe Văn Thân nói về điều đó trong 2 hay 3 lần đụng độ mà thôi. Cho dù đó có phải là phép lạ hay không, nhưng đối với đồng đạo đáng thương của chúng ta, khi đó là dấu chỉ lòng xót thương của Thiên Chúa đối với họ. Và chính Mẹ Maria bằng cách này hay cách khác, cũng đã thể hiện lòng từ ái chở che của Mẹ. Và chúng ta tin chắc rằng, nếu Chúa cho phép những cơn thử thách ghê gớm như thế, thì Ngài cũng có quyền không cho phép tận diệt con cái của Ngài. Rồi đây, sóng gió sẽ nhường lại cho an bình, sau những ngày đau thương sầu thảm, tôi hi vọng giờ phút vỗ về mừng vui cũng lại được vang lên.
Nhưng sao lâu quá, lạy Chúa, xin Chúa hãy mau đến cứu giúp chúng con. 
Ngày 11 tháng 9 lại còn khủng khiếp hơn vì phải giao chiến dưới hỏa lực đại pháo bắn trực xạ vào giáo xứ. Trong lúc đó quân Văn Thân tập trung tại địa điểm phòng thủ “Phước viện”, gần lũy tre rậm và nổi lửa lên đốt. Cuộc giao tranh diễn ra ở trong con suối nằm giữa giáo xứ và đồi Kim Sơn. Lực lượng giáo dân phải lùi bước ngay trận đụng độ đầu tiên, và liền đó, vị trí phòng thủ phía nhà Phước viện bị Văn Thân tràn ngập, nhưng nhờ các nữ tu đã hành động hết sức phi thường, các soeurs vừa xông vào giập tắt lửa, vừa rượt đuổi quân địch. Một soeur bị một quả đạn tử thương. Vào giây phút nguy kịch đó thì cố Nhơn vừa đến. Nhờ sự hiện diện cũng như những lời động viên khích lệ của ngài mà giáo dân lấy lại can đảm, rồi đồng loạt phóng mình xuống dòng suối, quân Văn Thân thấy thế, sợ quá, tháo chạy. Trong trận này, có một tên Văn Thân nói là nhân danh Trời truyền lệnh cho người công giáo ngừng chiến đấu và phải đầu hàng. Nó nói : “Hãy đầu hàng, đó là ý muốn của trời, khốn cho các ngươi, nếu các ngươi còn kháng cự”. Nói nói vừa dứt, có một giáo dân phóng về phía nó và đâm cho nó một giáo, đang khi nó cố trèo lên bờ suối phía bên kia. Nó bị giết cùng với 4 tên nữa cũng đang bị vướng mắc trong các bụi tre. Xác của chúng bỏ lại đó cho đến ngày chấm dứt cuộc chiến, làm hôi thúi cả một vùng.
                Tuy thắng trận, nhưng nỗi lo lắng lớn nhất của cố Nhơn là sợ thần công ở đồi Kim Sơn bắn sập thánh đường. Nếu thánh đường bị sụp đổ thì điều đó sẽ mang lại một hậu quả thật khủng khiếp về mặt tâm lý : giáo dân sẽ mất tinh thần, mất can đảm, và như thế là hết, tất cả sẽ bị hủy diệt. Thánh đường còn thì niềm tin còn. Thánh đường có 8 cây cột bằng gạch chống đỡ, nếu một quả đạn làm gãy mất một cây cột, lập tức nhà thờ sẽ bị đổ nhào ngay. Vì thế mà cha mới táo bạo quyết định tiến chiếm đồi Kim Sơn. Cha muốn ban lệnh tấn công ngay. Các vị chỉ huy đều im lặng, vì họ sợ khó mà thực hiện được. Đây là khu tổng hành dinh của quân Văn Thân, lại ở trên một quả đồi cao, bên dưới có rào giậu kiên cố. Một lúc sau, họ mới xin cha đợi đến sáng ngày mai, trước khi mặt trời mọc, quân Văn Thân sẽ lơ là canh gác, chúng ta bất ngờ leo lên mở đợt tấn công, như vậy mới có cơ may thành công được. Cha nghe theo ý kiến tuyệt vời đó và quyết định sẽ tấn công vào lúc 3 giờ 30 sáng hôm sau.
Suốt đêm đó, tâm hồn cha nặng trĩu âu lo. Cha luôn lắng nghe động tĩnh và hồi hộp chờ đợi giờ đã định. Vào khoảng nửa đêm, từ phía bên kia bờ suối, một giọng nói khàn khàn gọi các giáo dân. Cha cùng với một vài người nữa đến sát bên bờ suối để nghe cho rõ hơn, và cha đã nghe rõ ràng rằng : “Hỡi giáo dân, hãy qua bên bờ suối này mà lấy đại bác của chúng tôi, để chúng tôi không cò bị buộc phải giữ chúng nữa. Chúng tôi quá mệt mỏi với trận chiến này rồi, và chúng tôi không muốn gì khác hơn là quay về nhà. Nếu các ông không qua lấy, chúng tôi sẽ ném chúng xuống suối”.
Một giờ sau, người ta nghe một tiếng động mạnh giống như một vật gì nặng rơi xuống nước. Cái gì vậy ? Không ai biết. Nhưng khẩu đại bác đó cũng không thấy ở dưới suối và cũng không có tại chỗ họ bắn hôm qua.
Khoảng 3 giờ, Cố Nhơn đi báo thức các chiến sĩ để chuẩn bị tấn công. Khi họ bắt đầu vượt qua con suối thì cha quay trở lại nhà xứ và tìm một nơi để có thể quan sát họ trèo lên đồi. Bóng đêm còn bao phủ cả quả đồi nên không thể thấy gì cả. Cha chỉ biết chờ đợi… Cha quá sốt ruột không biết họ đang làm gì, đến đâu rồi, và tại sao lâu vậy, vì lẽ ra giờ này họ phải phá hủy tường rào của chúng. Trong khi đó thì các chiến sĩ ta không dám chặt cây quá mạnh vì sợ đánh thức chúng nên chặt nhè nhẹ. Khi họ thực hiện xong thì trời vừa sáng và quân Văn Thân đã bắt đầu xuất hiện rõ trên mỏm đồi. Tất cả chúng đang cột búi tóc và nhìn về hướng Cố Nhơn, vì cha đang đứng ở nơi trống trải nhất, nhằm mục đích lôi kéo sự chú ý của chúng, để cho các chiến sĩ ta trèo lên phía sau lưng họ. Nhưng sau đó thì quân Văn Thân ở phía bên kia đồi phát hiện được và kêu lên khiến chúng quay lại nhìn. Lúc này thì các chiến sĩ của ta cũng vừa kịp đến nơi và lập tức hô xung phong tấn công. Các chiến sĩ ta đã giết được vài tên, số còn lại tháo chạy. Ta hoàn toàn chiếm cứ đồi Kim Sơn và thu được 4 khẩu đại bác, 5 súng nhỏ và chục súng trường. Sau đó, ta châm lửa đốt doanh trại của chúng.
Ngày 12 tháng 9 là ngày rất vui mừng, niềm tin được tăng lên, nhưng chưa phải là hết. Thật vậy, quân Văn Thân bị mất hồn, nên từ đồi Bửu Châu (Non Trọc), cả ngày hôm đó lẫn ngày hôm sau họ không bắn lấy một phát đạn đại bác, tuy nhiên, họ vẫn bao vây giáo xứ cẩn mật. Nếu họ không tìm cách lấy lại đồi Kim Sơn mà họ đã để mất, thì họ lại không ngừng canh gác ở phía đồi bên kia (Non Trược) để ngăn chận không cho giáo dân liên lạc với bên ngoài. Mục đích của họ là giam đói cho đến cùng, vì nếu không chiến thắng bằng vũ khí thì ít ra cũng chiến thắng bằng đói khát. Và  quả như thế, giáo xứ bắt đầu thiếu lương thực, ngay cả lương thực của Cố Nhơn cũng hầu như đã cạn, vì ngài phải nuôi một đoàn giáo dân đến lánh nạn ở đó mà họ chả có mang được gì đến. Thật nguy khó, người ta chỉ còn trông cậy vào Chúa, người ta hi vọng vào Đức Maria là Đấng không bỏ họ trong những ngày chịu đựng lâu dài này. Khắp nơi trong tỉnh phải khiếp vía vì những loạt đại bác khủng khiếp trong hai ngày trước, họ tin rằng Trà Kiệu thế là xong. Quân Văn Thân hỉ hả loan tin thắng trận và ca hát tưng bừng. Chúng đe dọa sẽ kéo ra Đà Nẵng. Để che đậy sự thất bại, chúng tấn công Phú Thượng, nhưng Cố Thiên đã chống cự mãnh liệt, khiến chúng lại kéo về Trà Kiệu. Lần này đứng đầu là một cựu đô đốc, ông Chưởng Thủy Tý. Chúng nhờ đến cái thiên tài quân sự của ông để tận diệt những “thằng Công giáo quỷ quái” một lần cuối cho xong.
Vì thế vào ngày 14 tháng 9, người ta thấy chúng tiến đến phía cánh Nam đông vô số kể. Từ sáng sớm, Cố Nhơn đã lên đồi Kim Sơn để quan sát các hoạt động của quân Văn Thân. Ngài không khỏi sửng sốt khi thấy tất cả cánh đồng phía Nam tràn ngập những đạo quân đang tiến về phía giáo xứ, trong khi vừa hò hét, vừa đánh trống. Ngài vội vả leo xuống để ban lệnh chuẩn bị một trận phản công. Ngài vừa về đến giữa đội quân của mình thì quân Văn Thân đã chiếm dãy thành Chiêm và bắt đầu dựng nên một hàng rào chuẩn bị cho trận chiến. Họ rất vội vàng, và một hàng rào đã được dựng lên một cách mau lẹ lạ thường. Cố Nhơn thấy rất nguy hiểm nếu để cho họ xây dựng và củng cố vị trí ngay trên thành Chiêm này, vì đây là cạnh sườn của giáo xứ. Ngài quyết định phải tấn công ngay. Về phía Đông, đội quân thứ 3 sẽ tiến lên đầu dãy thành Chiêm, nơi mà chúng chưa tràn tới, để từ đó có thể dồn lui quân Văn Thân, hoặc đánh tan chúng ở cánh đồng phía bên kia. Một phần của đội quân dự bị (đội 8) được tăng cường đến giúp đội 3. Trong khi đó, một phần quân dự bị còn lại giúp cho đội 1 tấn công mặt trước. Người ta tin chắc là sắp xảy ra một trận giao tranh ác liệt, và ai cũng chuẩn bị chiến đấu một cách dũng cảm. Nhưng thật ngạc nhiên, quân Văn Thân bắt đầu quay lui trước khi các chiến sĩ của ta tiến đến. Ông Chưởng thủy Tý kêu ầm lên và rất vất vả để ngăn chận chúng lại, nhưng chúng không dám đứng lại và bỏ mặc một mình ông, với khoảng 10 người bảo vệ cho ông. Khi thấy giáo dân tiến đến gần, chính ông cũng phải bỏ chạy nhưng quá muộn. Hai thanh niên Trà Kiệu rượt theo, toán cận vệ của ông cũng bỏ ông mà chạy thoát thân. Khi thấy bị đuổi kịp thì ông quay lại xin hai thanh niên đó tha cho được sống. Hai thanh niên bảo với ông rằng : “Nếu mày muốn sống, chắc mày đã không đem sự chết đến cho chúng tao, ơ đây không có sự dung tha”. Nói rồi họ đâm ông, lấy thanh kiếm và cắt đầu ông mang về. Chắc người ta sẽ nghĩ rằng : điều đó thật hung ác, không theo đúng quy luật tù binh (chiến trận). Ôi những người giáo hữu đáng thương, đối với họ, thì người ta có giữ luật lệ gì đâu. Dù trẻ hay già, đàn ông hay đàn bà, bất cứ ở đâu trong Tỉnh, tất cả đều bị người ta bắt và dẫn đến Trà Kiệu để treo cổ trước sự chứng kiến của cha mẹ họ. Dù đó là hung ác, nhưng tôi không muốn bỏ qua đoạn này, vì muốn kể lại tất cả mọi việc.
Ngày hôm đó, lần đầu tiên người ta thấy một con voi xuất hiện trong đội quân Văn Thân. Giáo dân chưa biết phải làm gì để đối phó với loại tấn công mới này, nên hết sức lo lắng, nhất là đối với phụ nữ, họ do dự không dám tham chiến. Bấy giờ, có một thanh niên xung phong đi đuổi nó. Cậu ta nói : “Cho tôi một bó đuốc cháy, và các anh sẽ thấy nó quay lưng lập tức”. Đúng vậy, với bó đuốc cháy rực, cậu ta tấn công, voi run sợ bỏ chạy dù cho thằng nài cố mà giữ nó lại. Cậu ta đuổi theo đâm vào sườn nó, nhưng không đủ sức để đâm thủng được. Thằng nài ngã xuống lủi trốn vào bụi rậm rồi vắt giò mà chạy trối chết. Từ đó, người ta không lo ngại voi nữa, mặc dù trong hai trận sau đó, họ cũng có đưa voi tham chiến, nhưng không thể chiến đấu với giáo dân được. 
Ngày 15/9, không có trận đánh nào. Quân Văn Thân tập trung củng cố lực lượng ở phía Đông chung quanh đồi Non Trọc. Dưới chân đồi Non Trọc, ở phía bên kia thuộc phần đất của dân bên Lương, có một nơi đóng quân chính của quân Văn Thân. Đó chính là đình làng ngũ xã, mái lợp ngói, tường xây gạch, xinh xinh… Ở đó còn có 2 hay 3 ngôi chùa, 1 tăng viện, cũng đều xây bằng gạch, lợp ngoái. Khi bị rượt đuổi khỏi đồi Kim Sơn, quân Văn Thân đã chọn nơi này làm bản doanh chính của họ và họ bắt đầu củng cố để có nơi ẩn núp khi bị đột kích bất ngờ. Súng thần công của họ đặt trên đồi Non Trọc dể bắn vào giáo xứ, nhưng đều thất bại, nên từ đó họ ít bắn vào nhà thờ, nhà cửa, mà lại nhằm bắn vào người. Đại bác bắn đạn ria (sắt vụn), một phát có chừng 80 đến 100 viên đạn ria, được bọc trong một các giỏ mây và khi rơi xuống sẽ tung tóe ra chung quanh. Một lần Cố Nhơn núp sau một bụi tre, thì bị trọn một quả đạn ria này, giống như một cơn mưa đạn. Thoạt đầu, cha nghĩ là chết thôi, và theo bản năng tự nhiên, cha đưa tay rờ khắp thân thể và cha không thể tin là mình còn sống và không hề hấn gì. 
                   Ôi các giáo hữu đáng thương, họ thoát được cuộc bao vây và tấn công này và không bị giết, chắc chắn đó là họ được Đức Mẹ Đồng Trinh che chở cách riêng. Nhưng chúng ta phải tiếp tục theo dõi, vì chúng ta chưa biết được kết quả cuối cùng của cuộc bao vây tấn công này. 
Ngày 16/9 có 3 trận giao chiến, hai trận diễn ra ở bãi cát phía Bắc. Quân Văn Thân thích chọn phía này làm bãi chiến trường, vì ở đây không có gì cản trở sự tháo chạy của Văn Thân, rồi chờ lúc thuận lợi chạy đến nấp sau một tảng đá lớn chờ leo lên đồi. Khi phát hiện giáo dân tấn công, các vị chỉ huy Văn Thân kêu ầm lên, bảo quân lính ngăn chận giáo dân đang tiến lên. Voi được thúc ra trận, nhưng voi lại không chịu đi, mặc dù thằng nài không ngừng giáng những cú búa tạ liên tục. Và lạ thay, thay vì tiến lên thì nó lại lùi. Thằng nài kêu lên với các vị chỉ huy của nó rằng : “Voi sợ đám đông giáo dân không dám tiến lên”. Rồi nó la lên : “Hãy nhìn kìa, đạo quân trẻ nhỏ xuống từ trên các lũy tre, chạy là tốt nhất. Người công giáo đông quá”.
Giáo dân nghe những lời đó rất rõ ràng, nhưng không thấy gì cả. Cuối cùng thì một trong 10 thanh niên đội 4 đã leo lên được trên ngọn đồi và tìm cách bắn một phát súng vào tên lính đang canh gác trên đỉnh đồi. Một trong những người chỉ huy ngã xuống, những tên còn lại vội vàng tháo chạy. Giáo dân lợi dụng thời co tiến lên đỉnh đồi trước sự run sợ của quân Văn Thân, và chúng đã tháo chạy xa từ 15 km đến 20 km mới dám ngừng lại, vì sợ người Công giáo rượt theo. Khi Trà Kiệu được giải vây, thì lập tức các đình làng, chùa chiền, tu viện Phật giáo đều bị đốt cháy. Tin giáo dân Trà Kiệu chiến thắng loan đi khắp vùng, làm cho dân ngoại bắt đầu lo sợ một cuộc báo thù. Trong doanh trại Văn Thân, giáo dân tìm được 3 khẩu đại bác, một vài khẩu súng nhỏ, nhiều nhất là thuốc súng và quân nhu. Khi tìm kiếm ở đây, thấy rất ít lúa gạo, giáo dân mới đoán rằng : quân Văn Thân đã cất giấu lương thực ở tận cuối làng. Và không để mất thời giờ, giáo dân liền chạy đến truy tìm. Và quả đúng thế, ở đây họ tìm thấy một số lượng gạo rất lớn. Suốt ngày hôm đó, giáo dân lo vận chuyển lương thực về giáo xứ. Đến chiều, khi mọi việc đã xong xuôi, với tinh thần vui mừng hớn hở, họ kéo về tạ ơn Chúa, Đức Mẹ, các Thiên Thần đã tham dự vào cuộc chiến giúp họ. Tâm hồn tràn ngập niềm vui khôn tả, thay vì phải chết đói, hay chết trong vòng vây của quân thù, thì bây giờ họ đã được cứu sống, đã chiến thắng hoàn toàn.
                  Cuộc bao vây tấn công kéo dài 21 ngày đêm, giáo xứ Trà Kiệu mất đi 15 nam nhơn và 25 người bị chết do tạc đạn bên ngoài cuộc giao chiến. Về tổn thất của quân Văn Thân thì không thể nào biết chính xác được, nhưng có thể nói mà không sợ lầm, là số tử thương lên trên 300 người. 
Ngày 22/9, giáo dân tiếp tục triển khai chiến thắng của mình và đã trừng trị những tên đầu sỏ ở những làng chung quanh, những kẻ đã gây nên hận thù với giáo xứ, cũng như chúng cuồng nhiệt chi viện cho quân Văn Thân. Giáo dân không gặp sự kháng cự nào cả. Dân ngoại hoặc lập tức đầu hàng, hoặc vội vàng tháo chạy. Nhiều làng đến xin lỗi vì họ bị quân Văn Thân ép buộc phải chi viện, và họ hứa là không còn phân chia lương giáo nữa. Cố Nhơn rất khoan dung và ngài còn đề phòng sợ giáo dân của ngài trả thù các làng chung quanh, vì họ không tin các làng đó đã thành thật quy hàng, nên ngài đã đưa ra nhiều quy định và sẽ có hình phạt nghiêm khắc đối với giáo dân nào vi phạm.
Về phần quân Văn Thân, sau khi tháo chạy, chúng tập trung về thủ phủ tỉnh Quảng Nam và gởi lệnh đi khắp nơi để lập lại đoàn quân mới. Chúng hăm dọa những ai từ chối theo chúng.
Ngày 23/9, chúng khởi hành từ thủ phủ Quảng Nam và hướng về Trà Kiệu, mang theo một khẩu đại bác cỡ lớn và chừng 10 quả tạc đạn. Khi vượt qua hồ Chợ Củi (Câu Lâu), cách Trà Kiệu chừng 5 km, thì chúng nghe một tiếng nổ khủng khiếp và chúng biết rằng quân Pháp đã dùng mìn để đánh sập cổng ra vào thủ phủ, và như thế là thủ phủ đã bị chiếm cứ. Vì thế, họ lập tức bỏ khẩu đại bác lại đó, và vất những quả tạc đạn ở cánh đồng bên cạnh rồi chạy trốn. Biết được những việc vừa xảy ra ở làng Chợ Củi, Cố Nhơn cho người đến lấy những quả tạc đạn này, còn khẩu đại bác thì bỏ lại vì nó quá nặng.
Kể từ ngày đó, trong một thời gian khá dài, quân Văn Thân không còn thấy xuất hiện nữa…
Cuối cùng vào ngày 20/4/1886, Trà Kiệu lại bị bao vây một lần nữa vào khoảng 2 giờ sáng. Cuộc tấn công này không kéo dài, vào lúc rạng sáng thì quân Văn Thân lại tan rã.
———————————-
Chú thích của người dịch :
1- Các ngày đáng nhớ :
+ Ngày 01/9/1885 : Quân Văn Thân bắt đầu bao vây Trà Kiệu.
+ Ngày 10-11/9/1885 : Đức Mẹ hiện ra
+ Ngày 21/9/1885 : Trà Kiệu hoàn toàn chiến thắng.
2- Sau biến cố đau thương ở Trà Kiệu, Cha Geffroy đã đến Trà Kiệu và ở lại đó trong khoảng thời gian dài (3 hay 4 tháng) để tìm hiểu tường tận và nhất là để nghe chính Cố Nhơn cũng như những người trực tiếp tham chiến kể lại. Vì thế mà ngài đã ghi lại rất tỉ mỉ và đầy đủ suốt 21 ngày đêm bị bao vây tấn công, và ghi từng ngày một.
HƯỚNG VỀ ĐẠI HỘI THÁNH MẪU TRÀ KIỆU 2016
KỶ NIỆM 131 NĂM ĐỨC MẸ HIỆN RA TẠI TRÀ KIỆU

Ban MVTT/GP (WGP.Đà Nẵng 25.06.2016)