Thứ Năm, 18 tháng 12, 2008

TƯỞNG NHỚ GIÁO HẠT ĐẤT ĐỎ - GIÁO PHẬN HUẾ


        

THƯƠNG KÍNH 1300 VỊ TIỀN NHÂN VĨNH LINH " TỬ VÌ ĐẠO" NĂM 1645,1838,1885

     Giáo hạt Ðất Ðỏ nằm gọn trong địa hạt phủ Vĩnh linh tỉnh Quảng trị, nơi đây một thời nổi tiếng là vùng Công giáo sầm uất. Nhưng nay đã  tan tác theo vận nước điêu linh nghiêng ngửa.
     Các làng công giáo vùng nầy phần nhiều ở dọc ven sông Hiền lương  (Bến hải) thuộc phủ Vĩnh linh, xưa kia gọi là huyện Minh linh và sông Hiền lương gọi là sông Minh lương. Con sông nầy bắt nguồn từ Trường sơn chảy về tưới lúa đồng bằng Vĩnh linh rồi chảy ra hải khẩu Cửa Tùng. Có lẽ nhờ cửa biển nầy mà trước đây các nhà truyền giáo đã cập thuyền men sông, tiếp xúc với cư dân để giảng đạo.
     Theo Việt nam giáo sử (tóm lược), công cuộc truyền giáo  ở Trung Việt (1615-1659) được bắt đầu từ cửa Hàn (Ðà nẳng) vào năm 1615 rồi dần đến Quảng nam, Bình định. Ðang khi giảng đạo ở Quảng nam, các linh mục chia nhau khu vực để làm việc. Cha Perdo Mattos lo giảng đạo ở Thuận hóa - Quảng bình (Thừa thiên, Quảng trị, Quảng bình). Cha Ðắc lộ (Alexandre De Rhodes)  phụ trách các tỉnh Quảng nam, Bình định, Phú yên.
     Ngày 15-01-1644, cha Ðắc lộ gửi thầy I-nha-xô và thầy Vinh-sơn đi ra các tỉnh phía bắc Trung Việt (Thừa thiên, Quảng trị, Quảng bình). Thầy I-nha-xô (tên thánh, không rỏ tên Việt) sinh năm 1610 tại làng Liêm công, miền Cửa Tùng. học thức rộng, thông sử ký, được bổ nhiệm một chức tại phủ Tổng Trấn tức dinh ông Hoàng Khê. Ông Hoàng Khê là con của bà Minh Ðức Vương Thái Phi, vợ lẽ chúa Nguyễn Hoàng. Năm 30 tuổi, thầy I-nha-xô theo đạo Công giáo do cha Ðắc lộ rửa tội. Hai năm sau, Thầy từ chức quan  để gia nhập đoàn  Thầy Giảng gồm 9 người, Thầy được cử làm Trưởng đoàn. Thầy I-nha-xô đã rửa tội cho 293 người, nhưng chính trong quê hương làng xã của mình, I-nha-xô chỉ rửa tội được cho bà mẹ và bà cố của Thầy đã 80 tuổi.
     Ngày 16-7-1645, đoàn Thầy Giảng bị bắt, thầy I-nha-xô và thầy Vinh sơn bị xử tử hình, 7 thầy còn lại mỗi người bị chặt mất một ngón tay, vào thời chúa Công Thượng Vương.
     Qua đoạn Giáo sử (tóm lược) nói trên, có thể quyết đoán  vùng Vĩnh linh đã được truyền giáo dưới thời linh mục Perdo Mattos, đồng thời có các thầy trong đoàn Thầy Giảng do thầy I-nha-xô Trưởng đoàn cùng giảng đạo ở đây do cha Ðắc lộ gửi đến vào ngày 15-01-1644.
     Qua 310 năm (1644-1954) truyền giáo, người công giáo  vùng Vĩnh linh chịu nhiều gian nguy khổ nạn do nhiều đạo dụ của các triều đại  Cảnh Thịnh (Tây sơn), Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Ðức (Nhà Nguyễn).
    
     Vụ khủng bố ngày 6 tháng 6 năm 1838
     Lúc sáng sớm, một toán lính của huyện Vĩnh linh xông vào làng Di loan lục soát tìm bắt cha Candall, Giám đốc Tiểu chủng viện, nhưng linh mục đã trốn thoát được. Quân lính bèn lùng bắt giáo dân ở vùng nầy, đa số chạy thoát được, một số bị bắt và bị hăm dọa tra tấn, mục đích để buộc giáo dân bỏ đạo`và khai báo chỗ ẩn náu của cha Candall. Vì sợ chịu không nổi cực hình nên số bị bắt tuân lệnh xuất giáo. Duy chỉ chú TômaTrần văn Thiện, một chủng sinh Tiểu Chủng viện An ninh, sinh năm 1820 tại làng Trung quán tỉnh Quảng bình, đã không chịu bỏ đạo, bị dẫn về thị xã Quảng trị và chịu tra tấn rất dã man. Ngày 18-9-1838, vua Minh Mạng châu phê bản án tử hình . Ngày 21-9-1838, chú Thiện bị lính triều đình  thắt cổ  “Tử Vì Ðạo”  tại pháp trường làng Nhan biều, tỉnh Quảng trị.
     Vụ Văn thân tàn sát người Công giáo năm 1885
     Biến cố chính trị dẫn đến vụ tàn sát người có đạo Công giáo :
     Vua Tự Ðức không con, lập di chiếu  chọn Ưng Chân con của Thụy Thánh Vương Hồng Y lên nối ngôi và cho gọi ba ông Trần tiển Thành, Tôn thất Thuyết và Nguyễn văn Tường  vào để ký thác tự quân. Ngày 16-7-1883 vua Tự Ðức băng hà, ngày 19-7-1883 làm lễ tấn tôn Ưng Chân lên ngôi lấy hiệu là Dục Ðức. Ba ngày sau đó, hai ông Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết phế vua Dục Ðức, bắt giam vào ngục, bỏ đói đến chết. Quan Ngự sử Phan đình Phùng lên tiếng chỉ trích liền bị hai ông Tường và Thuyết cho lính trói lại và hạ ngục. Các quan trong triều khiếp sợ không ai dám hó hé nửa lời.
     
                  “Thấy  lời ai nấy sởn ghê,
                  Sốt gan Tường Thuyết truyền đè xiềng ngay “   (Hạnh Thục ca)
     Từ đó hai ông Tường và Thuyết lộng quyền lấn át triều đình, tôn em ruột vua Tự Ðức là Hồng Dật lên làm vua hiệu là Hiệp Hòa vào ngày 2 tháng 6 năm Quí Mùi (1883). Vua thấy hai ông Tường và Thuyết lộng quyền nên bí mật tìm cách loại bỏ hai Ông. Việc bị lộ, hai Ông sai người giết vua Hiệp Hòa vào đêm 29 tháng 10 năm Quí Mùi (1883).
     Giết xong vua Hiệp Hòa, hai ông Tường và Thuyết tôn người con nuôi thứ ba của vua Tự Ðức là Kiến Phước lên làm vua vào ngày 3 tháng 11 năm Quí Mùi (1883). Kiến Phước làm vua được 8 tháng thì mất, nghi là bị đầu độc. Hai Ông đưa Ưng Lịch 14 tuổi lên làm vua vào ngày 01 tháng 8 năm 1884, hiệu là Hàm Nghi. Nhà vua còn nhỏ, chỉ ngồi làm vì, mọi việc triều chính đều do hai ông Tường và Thuyết định đoạt. Về đối ngoại, hai Ông đã thiếu khôn khéo trong cách ứng xử với tòa Khâm sứ Pháp đang có nhiều hành vi sách nhiễu, hống hách và cho tổ chức các cuộc tập trận để diễu võ dương oai làm xáo động kinh thành Huế. Nhóm người Pháp ở đây lộng hành, ỷ sức mạnh hiếp đáp quan chức của chính phủ ta, đòi triều đình phải nạp chiến phí trị giá 20.000 thoi vàng, 200.000 thoi bạc và 200.000 quan tiền.
     Ðêm 4 tháng 7 năm 1885, lợi dụng lúc Pháp tổ chức dạ tiệc, ông Tôn thất Thuyết cho lệnh tấn công đốt cháy các trại ở Tòa Khâm, đánh vào đồn Mang cá, đại bác từ các pháo đài ta trên cửa thành bắn sang làm cho Tòa Khâm sập gần hết,  nhiều quan binh Pháp chết, mãi đến gần sáng quân Pháp mới củng cố được và phản công, nã đạn pháo và tấn công vào Thành Nội. Quân ta kháng cự mạnh mẽ nhưng vì khí giới kém nên rút lui và tan rã dần. Quân Pháp tiến vào đốt cháy bộ Binh và bộ Lại. Dân chúng trong thành chạy tán loạn, bị lính Pháp tàn sát dã man. Hai quan phụ chánh Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết thấy thất bại,vội phò vua Hàm Nghi và tam cung chạy ra phía Kim long rồi đi mãi ra Quảng trị.
     Việc hai ông Tường và Thuyết đánh Pháp, lưỡng cung và vua Hàm Nghi chẳng biết một tí gì. Sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885, thấy quân ta bại trận, ông Thuyết mới tâu lên Hoàng Thái hậu, Bà đành lên kiệu rời kinh thành. Tiếp đó, ông Thuyết vội giục vua Hàm Nghi xuất sơn, lúc đó vua còn nhỏ chẳng biết gì, không chịu đi và nói  “Ta có đánh với ai đâu mà chạy”. Ông Thuyết không nói, sai lính vực vua lên kiệu, thoát nhanh lên Kim long.
     Cảnh vua quan triều đình Huế chạy loạn thật thê thảm. Gần 10.000 người, nam phụ lão ấu, trong đó có nhiều ông hoàng bà chúa xưa nay sống trong cung điện, nay phải kéo lê đôi chân vất vưởng vật vờ trên đường chạy loạn, chịu không nổi cảnh khổ nên sáng ngày 9 tháng 7 năm 1885 phải trở về Huế.
     Riêng vua Hàm Nghi buồn bã theo ông Tôn thất Thuyết ra Tân sở thuộc huyện Cam lộ, tỉnh Quảng trị. Tại đây, ông Tôn thất Thuyết nhân danh vua Hàm Nghi ra một chiếu thư gọi là “Hịch Cần Vương”. Tờ hịch có đoạn như sau : “.....Trước hết phải bài trừ bọn giáo dân để thắng quân Pháp sau nầy, vì chính những giáo dân nầy đã cùng với giặc Pháp cấu kết phản lại ta. Cuộc tập công đêm 22 rạng 23 tháng 5 năm Ất Dậu đã giết được một số lớn giặc Pháp, tuy nhiên dân chúng vì quá đông cũng chết rất nhiều. Nay lúc Nguyễn văn Tường thay lòng đổi dạ trốn vào nhà giáo Kim long ..... Tường lại theo giặc đối đầu, lại mạo chữ ký của Thái Hậu để dụ ta.....”
     Lúc vua Hàm Nghi còn ở Tân sở (Quảng trị) thì ông Nguyễn văn Tường ra đầu thú Pháp. Còn ông Tôn thất Thuyết đem vua ra căn cứ địa Ấu sơn thuộc làng Phú gia, Hương khê, tỉnh Hà tịnh, để hai con trai lại phò vua, còn Ông trốn sang Trung hoa cầu viện. (Theo sách 13 Vua Nhà Nguyễn).
     Hịch Cần vương  được ban hành khi vua Hàm Nghi mới 15 tuổi, chính ông Tôn thất Thuyết là tác giả. Nội dung hịch : Kể tội giặc Pháp, hô hào cả nước  chống giặc Pháp và bài trừ bọn giáo dân.
   
      Việc chống giặc Pháp
 Tháng 8 năm Bính Thân (1856) là năm Tự Ðức thứ 9, quân Pháp bắn phá các đồn lũy của ta ở Ðà nẳng rồi bỏ đi. Pháp thực sự đánh chiếm Việt nam khởi từ tháng 7 năm Mậu Tuất (1858) là năm Tự Ðức thứ 11, quân Pháp vào Ðà nẳng hạ thành An hải và thành Tôn hải. Sau đó chiếm Gia định, Ðịnh tường, Biên hòa, Vĩnh long, rồi toàn bộ Nam kỳ, dần dần thôn tính Bắc kỳ. Sau đó đặt nền đô hộ theo hòa ước năm Quí Mùi (1883).
     Vua Tự Ðức  tự phê trong suốt 36 năm trị vì như sau :”.... Ôi! dốt nát mà quen sống yên ổn, mong muội mà ở chốn nhà cao cửa rộng, chẳng biết phòng bị, tôi tài tướng giỏi cũng đã tàn tạ hơn phân nủa.....Các triều đại dày công khó nhọc mở mang đất đai, bỗng nhiên một sớm thấy giao cho địch ..... Nhưng không sáng suốt trong việc biết người, ấy là tội của ta.....”
     Cuộc xâm lăng của Pháp kéo dài 27 năm, từ 1856 là năm Pháp đánh phá Ðà nẳng đến năm 1883 là năm triều đình Huế ký hòa ước nhận sự bảo hộ của Pháp. Trong hai mươi bảy năm, triều đình đã không lo tái tổ chức quân đội và huấn luyện quân sĩ chống ngoại xâm. Bởi vậy tình hình ngày càng nguy cấp, vua quan giữ lấy thói cũ, bài bác các đề nghị canh tân để phú quốc cường binh hầu bảo vệ đất nước. Năm Bính Dần (1866) là năm Tự Ðức 19, ông Nguyễn trường Tộ, một người công giáo, dâng mấy bài điều trần, kể hết tình thế nước mình, rồi xin vua phải mau mau cải cách mọi lãnh vực thì không mất nước. Triều đình cho là nói càn. Ông còn đề ra kế hoạch đánh úp Tây, nhưng vua quan chẳng nghe. Linh mục Ðặng đức Tuấn dâng lên vua  bản điều trần “Hoành Mao Hiến Bình Tây” ( Sách lược đánh giặc Tây), Vua xem rồi bỏ qua. 
     Bài trừ ‘bọn giáo dân’
 Vua Minh Mạng trước lúc lên ngôi đã tuyên bố “Ta ghét đạo của người Âu châu. Ta sẽ cấm và trừ cho triệt đạo ấy” (Louvet: La Cochinchine religieuse). Sau 5 năm lên ngôi trị vì, năm 1825, vua ra dụ cấm đạo. Ngày 6-01-1833, vua ra sắc dụ cấm đạo toàn quốc. Tiếp theo sau là các sắc dụ cấm đạo ban hành năm 1836 và 1838. Năm 1841 vua Minh Mạng chết vì bị té ngựa. Các vua Thiệu Trị và Tự Ðức kế vị cũng ra nhiều đạo dụ cấm đạo. Nhiều giáo sĩ và giáo dân bị xử tử, trong đó có một số quan quân của triều đình như ông Ðội Tống viết Bường,v.v...  Các vị đã từng tuyên bố “Tôi sẵn sàng đi đánh Tây nhưng không thể bỏ đạo”. Vua quan bắt bớ, tra tấn, hành hạ, tù đày, chém giết, nhưng người công giáo vẫn cầu nguyện cho vua quan trong mỗi buổi kinh sáng chúa nhật: “Xin Chúa lòng lành phù hộ cho đức vua chúng tôi cùng các quan văn võ quần thần, nhất là quan nhậm xứ nầy, thảy đều an trị ...” Khi tra tấn, đánh đập, kềm kẹp. họ vẫn chịu dựng, không than van, khi xử tử họ chết vui vẻ hiền lành, chết trong lời cầu nguyện. Họ trung tín với Thiên Chúa và trung thành với vua cho đến chết. Họ không phản quốc, không chống vua, không bán nước, không phạm tội hình sự. Thế mà vua quan ta lại nhẫn tâm giết hại người công giáo Việt nam, con dân của mình. Họ chết chỉ vì không chối bỏ đạo.
     Trong lúc quốc gia lâm nguy, thực dân Pháp đang xâm chiếm đất đai, thay vì phải nổ lực tạo đoàn kết, chống ngoại xâm, vua quan ta lại đi tróc nả chém giết giáo dân vô tội, gây chia rẽ và gieo hận thù trong nhân dân. Lỗi ấy vua Tự Ðức đã tự phê:  “.....Bỗng nhiên một sớm thấy giao cho địch.....Nhưng không sáng suốt trong việc biết người, ấy là tội của ta.....” 
     Xin trở lại Hịch Cần Vương : Hịch được ban ra, lập tức các bậc khoa bảng (gọi là Văn thân) triệu tập nghĩa sĩ, rèn đúc gươm giáo, thay vì đi giết giặc Pháp họ lại phất cờ gióng trống đi giết người có đạo Công giáo, đồng bào với họ.
     Tại vùng Vĩnh linh (Cửa Tùng, Quảng trị) giáo hạt Ðất Ðỏ, trong ngày 06-09-1885, Văn thân thăm dò quanh các họ đạo và bắt đầu tấn công vào 2 ngày sau đó :
      Ba họ (giáo xứ) Gia môn, Cao xá và An lộc: Buổi sáng ngày 08-09-1885, quân lính Văn thân xông vào cướp của đốt nhà, lùa giáo dân vào nhà thờ, chất rơm đốt, thiêu sống khoảng 500 giáo dân Gia môn. Hai họ Cao xá  và An lộc gồm khoảng 60 giáo dân cũng bị chết thiêu cùng lúc với Gia môn.
     Hai họ Ba ngoạt và Hòa lạc : Nghe tin Văn thân sắp sửa tàn sát công giáo Ba ngoạt, linh mục chánh xứ là cha Thới chạy trốn ở Quảng bình, giáo dân bơ vơ kinh hải. Ngày 8-09-1885, có độ 150 người Ba ngoạt và độ 60 người Hòa lạc chạy ra Quảng bình trốn trong lúc Văn thân giục trống liên hồi, tràn vào Hòa lạc cướp của giết người, đốt nhà giáo dân và nhà thờ. Tiếp đó, Văn thân càn quét giáo xứ Ba ngoạt, lùng sục của cải, đốt nhà, chém giết khoảng 400 giáo dân cuả hai giáo xứ nầy. 
     Họ nhánh Liêm công : Sau khi tàn sát xong các họ đạo Cao xá, Gia môn, trên đường di chuyển về đánh phá Di loan, quân lính Văn thân đã chém giết vài chục giáo dân Liêm công, một họ nhỏ nằm trên trục giao thông Chợ Huyện - Cửa Tùng.
      Họ An do Tây : Tàn sát xong Liêm công, quân Văn thân kéo đến An do Tây giết  hại khoảng 15 giáo dân.
      Bốn họ An bằng, An lễ, An ngãi và An trí : Trước khi tấn công Di loan, quân lính Văn thân  lùng sục họ đạo An bằng, bao vây nhà thờ, dùng mác đâm chết  khoảng bốn, năm chục giáo dân. Ðốt nhà dân và nhà thờ. Ba họ An lễ, An ngãi, An trí  cũng đồng thời bị Văn thân tàn sát độ 150 giáo dân vào ngày 08-09-1885.
     Hai họ Loan lý và Hòa ninh : Hai giáo xứ nầy liên cư với Di loan,  vì vậy, khi Văn thân tấn công Di loan thì đồng thời cũng tàn sát hai họ nầy vào ngày 10-9-1885. Chủ đích của quân Văn thân là giết người có đạo, cướp của và đốt phá nhà dân và nhà thờ. Khoảng 50 giáo dân họ Loan lý bị lùa đến một vùng đất trống, bắt đào hào rồi xô giáo dân xuống hào, lính Văn thân đứng trên bờ hào dùng lưỡi đòng đâm từng nạn nhân rồi rải rơm lên đốt. Sau khi tình hình đã tạm ổn, những giáo dân sống sót hồi cư đã xây tại nơi hành quyết nầy một  “Lăng Tử Vì Ðạo”. Họ Hòa ninh cũng gần 50 giáo dân bị giết, nhà cửa bị thiêu đốt hoàn toàn.
     Họ Di loan : Từ ngày tàn sát giáo dân các họ Gia môn, Cao xá, An lộc, Ba ngoạt, Hòa lạc, Liêm công, An do tây, An bằng, An lễ, An ngãi, An trí, Loan lý và Hòa ninh, đội quân Văn thân đã chém giết gần 1300 giáo dân, họ chịu chết mà không chống cự lại.    
      Nhưng khi đến tấn công Di loan và An ninh, quân Văn thân gặp sức kháng cự mảnh liệt. Di loan là một làng công giáo toàn tòng có từ lâu đời, hương chức trong làng đều có đạo. Di loan có chung ranh giới với làng Tùng luật, một làng toàn lương, dân tình hiền hòa, giữa hai làng không có hận thù gì, nhưng khi được Văn thân khích động, cổ võ và tuyên truyền rằng Di loan và Tiểu chủng viện An ninh có nhiều của cải, tấn công vào, ai muốn lấy gì tùy sức. Văn thân vừa dọa nạt vừa khuyến dụ nên một số dân làngTùng đã a tòng theo Văn thân, đàn ông cầm giáo mác, đàn bà thì triêng gióng thúng mủng đi theo lính Văn thân để hôi của.
     Ngày 08-09-1885, Văn thân vây đánh Di loan, chém giết một số giáo dân nhà ở rìa làng, nhưng khi tiến sâu vào làng, bị giáo dân kháng cự mảnh liệt, Văn thân rút lui.
     Ngày 09-09-1885, Văn thân tái chiến, giáo dân xuất kích đuổi đến làng Tùng luật.
     Ngày 10-09-1885, Văn thân đánh lần thứ ba, giáo dân phản công kịch liệt, quân Văn thân rối loạn hàng ngũ phải tháo chạy.
     Ngày 12-09-1885, đội quân Văn thân được tăng viện quân số và vũ khí. Trong khi Di loan kháng cự suốt bốn, năm ngày, một số giáo dân bị thương hay tử thương, một số trốn thoát ra Ðồng hới (Quảng bình) hay Huế, vì thế số chiến hữu bị giảm sút. Về mặt chiến thuật cần có vị trí vững chắc, địa thế thuận lợi, có đủ lương thực và đông chiến hữu, vì vậy, linh mục Ðăng (Dangelzer) chính xứ Di loan quyết định di chuyển hơn 1.000 giáo dân Di loan, gồm mọi thành phần nam phụ lão ấu, tập trung về Tiểu chủng viện An ninh.
     Ngày 13-09-1885, tấn công lần nữa vào Di loan nhưng chỉ thấy vườn không nhà trống, Văn thân liền phá bình địa Di loan, thiêu hủy tất cả nhà dân, nhà thờ, cướp toàn bộ của cải, thóc gạo, áo quần, trâu bò, heo gà...
     Họ An ninh và Tiểu chủng viện An ninh : Ngày 10-09-1885,  Văn thân đánh Di loan nhưng thất bại, họ lui về đánh Tiểu chủng viện An ninh, không thắng, trên đường rút lui họ đốt nhà thờ An ninh, rượt bắt và chém giết nhiều giáo dân. Quân Văn thân còn tấn công mấy lần nữa nhưng đều thất bại.
     Trong khoảng thời gian nầy, một thuyền từ một giáo xứ ở Ðồng hới (Quảng bình) vào  Cửa Tùng, cập bến Di loan, chuyển đến Tiểu chủng viện An ninh 2 súng tiểu thần công, 4 súng nạp đạn tiền và một số đạn dược.
     Về phía  Văn thân, ngày 18-09-1885, sau khi nhận được khí giới , đạn dược và lính từ Cùa (Cam lộ, Quảng trị)  tăng viện và huy động một số dân Tùng luật và các làng lân cận tham gia, số quân lên khoảng 3000 người, Văn thân chuẩn bị một cuộc tấn công lớn vào Tiểu chủng viện An ninh với hỏa hổ, giáo mác, súng thần công, súng trường, quyết một trận thư hùng, dứt điểm ổ kháng cự cuối cùng ở Tiểu chủng viện nầy và san bằng các làng công giáo vùng Cửa Tùng.
     Phía Tiểu chủng viện An ninh, linh mục Hòa (Girard), Giám  đốc Tiểu chủng viện với sự giúp sức của linh mục Ðăng từ Di loan đến, 5 linh mục khác và 7 chủng sinh đã vạch kế hoạch phản công với 800 chiến hữu cường tráng trang bị bằng giáo mác sẳn sàng quyết tử khi có lệnh xuất kích. Riêng nữ giới chuẩn bị nước để dập tắt các đám cháy do Văn thân sử dụng hỏa hổ đốt phá hàng rào nơi chiến hào. Người giáo dân lúc nầy ý thức rằng: chống cự được thì sống còn, nếu thất bại thì tiêu vong mấy ngàn sinh mạng.
     Chiều hôm ấy, 18-09-1885,  một buổi chiều quyết định sự thắng bại tồn vong của đạo Công giáo vùng nầy, bởi Văn thân quyết tâm làm cỏ, nhổ sạch, không còn một tên công giáo sống sót ở đây. Quân Văn thân bao vây tứ phía, la hét ầm ĩ, xông tới chiến hào, hỏa hổ sắp khạc lửa đốt cháy hàng rào, quân lính toan vượt chiến hào tràn ngập cứ điểm để tiêu diệt toàn bộ người có đạo tại Tiểu chủng viện An ninh.
     Giờ quyết định đã điểm, ba tiếng trống lệnh vừa dứt, các cửa chiến hào lập tức đồng loạt mở tung, 800 chiến hữu công giáo trang bị giáo mác đồng loạt ào ạt xung kích tốc chiến, súng thần công từ trong Tiểu chủng viện bắn ra yểm trợ. Ðội quân Văn thân, một đội quân ô hợp, khiếp đảm tháo chạy, để lại 2 súng thần công, 2 súng trường, hỏa hổ, đạn dược và một thùng lương thực. Trận nầy, phía giáo dân mất 10 chiến hữu, địch thiệt 85 mạng.
     Sau trận nầy, Văn thân còn tái chiến nhiều lần nữa, nhưng càng đánh càng thua, để lại 30 tử vong, 3 súng thần công, 1 súng phá lũy, 6 súng trường, nhiều giáo mác, 7 cái cáng, 1 con ngựa, nhiều đạn dược, hỏa hổ và 1 ấn tín của cấp chỉ huy.  
     Ngày 02-10-1885, quân Pháp dẹp loạn, đánh đại đồn Văn thân ở Tân trại. Gần 3000 quân Văn thân tháo chạy. Chính quyền vãn hồi an ninh, tái lập  trật tự. Chấm dứt tình trạng hỗn loạn.
     Sau một tháng bị bao vây, 7 lần chống cự quyết liệt, 800 chiến hữu công giáo đối đầu với  khoảng gần 3000 quân lính của Văn thân. Kết cuộc, Văn thân bị 200 tử thương, khoảng 1300 giáo dân Vĩnh linh bị giết dọc đường, tại nhà hay tại nhà thờ vào lúc Văn thân mới nổi dậy.
   
     Tài kiệu tham khảo :  -Việt nam Sử lược của Trần trọng Kim.
                                    -Việt nam Giáo sử của LM.Phan phát Huồn.
                                    -Một Trang Huyết Lệ Trong Lịch Sử Tỉnh Quảng Trị của Jabouille,nguyên Công sứ Pháp tại tỉnh Quảng trị.
                                     -Mười Ba Vua Nhà Nguyễn của Thi Long.
                                     -Vè Văn Thân của ông Dương Viên.
   
      Sau khi  an ninh được vãn hồi, giáo dân lần lượt trở về nhà đã bị đốt cháy, chôn cất hàng chục, hàng trăm  tử thi của đồng đạo trong giáo xứ bị Văn thân giết và lo tạo dựng lại cơ nghiệp.
     Sau vài chục năm vất vả, người công giáo Vĩnh linh xây cất thánh đường bằng gạch ngói thay cho nhà thờ tranh tre, xây dựng trường học giáo lý, nhà cha sở, hội quán, may sắm cờ phướn, lập hội hát (ca đoàn), đội trống, hội Nghĩa binh Thánh Thể, tổ chức các cuộc rước kiệu Mình Thánh Chúa, kiệu Môi khôi, kiệu lễ Ðức Mẹ Mông triệu Thăng thiên,v.v...
     Cuộc hành trình trên 350 năm gian khổ với những chứng tá khí phách anh hùng : Thầy Giảng I-nha-xô người Liêm công Tử Vì Ðạo năm 1645, Thánh Tô-ma Thiện, chủng sinh An ninh, Tử Vì Ðạo năm 1838 và gần 1300 giáo dân hạt Ðất Ðỏ bị Văn thân thảm sát Tử Vì Ðạo năm 1885. Máu các vị Tử Vì Ðạo đã thấm sâu vào mạch đất nầy nảy sinh nhiều hoa trái tốt đẹp cho Giáo hội nói chung và Giáo phận Huế nói rìêng.
     Quá trình xây dựng và phát triển trong khoảng 50 năm an bình (1888-1945), vùng đạo Vĩnh linh được tổ chức thành Giáo hạt, gọi là “Giáo Hạt Ðất Ðỏ”. Mang tên “Ðất Ðỏ” vì thổ nhưỡng địa phương nầy nhiều đất đỏ bazan (6.950Ha trong tổng diện tích 627 Km2 toàn huyện).
     Giáo hạt Ðất Ðỏ có các Tu viện và các Giáo xứ sau đây : Tiểu Chủng viện An ninh,  Phước viện Mến Thánh giá Di loan, Ðan viện Xi-tô Phước sơn và các Giáo xứ: An bằng, An do đông, An do tây, An lễ, An lộc, An ngãi, An ninh, An trí, Ba ngoạt, Cao xá, Cổ trai, Di loan, Gia môn, Hòa ninh, Loan lý, Phan xá, Phước sơn, Quảng xá, Thủy ba.  Ba Tu viện,19 giáo xứ với khoảng trên 10.000 giáo dân, một con số tương đối cao (30%) so với dân số huyện Vĩnh linh vào năm 1945 có khoảng 30.000 người trong tổng số toàn quốc 20 triệu đồng bào thời bấy giờ.
     Các Tu Viện
    
     *Tiểu Chủng viện An ninh, còn gọi là Nhà trường An ninh, tọa lạc trên một khu đất khá rộng và quang đảng tại làng An ninh. Theo sách Hành Hương của ông Trần quang Chu: “Năm  1783, Ðức cha Gioan Labartette thành lập Tiểu chủng viện ở Di loan. Tháng 8-1798 vua Cảnh Thịnh (Tây sơn) bắt đạo nên chủng viện phải giải tán. Năm 1801, Nguyễn Ánh phục quốc, năm 1802 lên ngôi hoàng đế lấy hiệu Gia Long, đem gia quyến và hoàng tử Ðảm (10 tuổi, sau nầy nối ngôi hiệu là Minh Mạng) ra thăm quê ngoại ở làng Cổ trai (kế làng An ninh). Dịp nầy, để tỏ lòng biết ơn Ðức cha Pigneau (Bá đa lộc), Nguyễn Vương đã dành cho Ðức cha Gioan Labartette một cuộc viếng thăm kính trọng và bất ngờ. Dịp nầy Nguyễn Vương ban cho Ðức Cha một sở đất  quang ánh và rộng rải tại làng An ninh để xây dựng chủng viện”.

     Tiểu chủng viện An ninh là nơi đào tạo linh mục trong giai đoạn 8 năm đầu, sau đó vào học ở Ðại chủng viện Huế 6 năm rồi mới thụ phong linh mục. Tiểu chủng viện An ninh cũng giúp giáo huấn chủng sinh cho Giáo hội Công giáo Lào. Một ít chủng sinh thụ giáo ở đây sau nầy nổi danh như Ðức cha Hồ ngọc Cẩn, Giám mục Giáo phận Bùi chu; Ðức cha Ngô đình Thục, Giám mục Giáo phận Vĩnh long và Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế; Ðức cha Lê hữu Từ, Giám mục Giáo phận Phát diệm;  Ðức cha Nguyễn văn Hiền, Giám mục Giáo phận Sài gòn và Ðà lạt; Ðức Hồng y Nguyễn văn Thuận, Giám mục Giáo phận Nha trang, Tổng Giám mục phó Tổng Giáo phận Sài gòn, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình Tòa thánh Vatican; Ðức cha Nguyễn như Thể, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế; Linh mục Nguyễn văn Thích, giáo sư Hán văn  và Triết học Ðông phương tại Ðại học Huế, Ðà lạt và Sài gòn; Linh mục Nguyễn văn Lập, Viện trưởng viện Ðại học Ðà lạt. Một ít chủng sinh rời chủng viện sau nầy dấn thân vào đời cũng xuất chúng, như : Ông Ngô đình Khả, học ở Tiểu chủng viện An ninh sau đó chuyển đến Chủng viện Pénang (Mã lai), Thượng thư bộ Công. Ông được người đời truyền tụng “Ðày vua không Khả, đào mã không Bài” (Năm 1907, Thượng thư Ngô đình Khả phản đối việc lưu đày vua Thành Thái sang đảo Réunion. Năm 1908  Thượng thư Nguyễn hữu Bài chống kịch liệt Khâm sứ Mahé (Pháp) đòi khai quật mộ vua Tự Ðức để lấy vàng ngọc). Ông Ngô đình Khả là người đã vận động thành lập trường Quốc học Huế, niên khóa đầu tiên 1896-1897 vua Thành Thái đích thân chủ tọa. Ông cũng là người vận động thành lập một tư thục cho con em lương giáo, lấy tên là trường Pellerin Huế, khai giảng khóa đầu tiên năm 1904 do sư huynh dòng Lasan điều khiển. Ông Nguyễn hữu Bài, Thượng thư bộ Lại kiêm bộ Hộ sung Cơ mật viện Ðại thần dưới triều vua Khải định. Ông được người đời truyền tụng “Ðày vua không Khả, đào mã không Bài”….
    
     Tiểu chủng viện An ninh có một cơ ngơi bề thế gồm 2 dãy nhà lầu làm nơi ở và học cho các giáo sư và chủng sinh, 1 nhà thờ chính, 1 nhà thờ nhỏ gọi là nhà thờ Ðức Bà và 1 gọi là nhà thờ Thánh An-tôn, nhà chơi, nhà khách, nhà ăn, nhà bếp, lẫm lúa (kho thóc), v.v.. Vua Khải Ðịnh đã một lần tới thăm và ban cho Tiểu chủng viện nầy một bức hoành phi bốn đại tự “ Phụ Thế Trưởng Nhân “  
     Qua các biến cố dồn dập bắt đạo liên miên, đến thời an bình kiến thiết xây dựng tiếp đến thời kỳ chiến tranh tàn phá, Tiểu chủng viện An ninh tồn tại đến tháng 8 năm 1954 di cư, chuyển vào Huế. Vị Giám đốc cuối cùng của Chủng viện An ninh là cha An-rê Bùi quang Tịch, một linh mục thánh thiện và nhân đức. Khi bị ngứa không gãi, đau răng không dùng thuốc giảm đau, sống khổ hạnh, chịu đựng, khắc khổ. Khi về già ngài vào tu ở dòng khổ tu Xi tô Thủ đức.
   
      *Phước viện Mến Thánh Giá Di Loan : Phước viện có từ lâu, cơ sở bị Văn thân tiêu hủy hoàn toàn tháng 9 năm 1885, được linh mục Alfred Maria Eugenio Barthe Lémy (cố Mỹ) làm quản xứ Di loan vào năm 1887, đã cho tu tạo lại phước viện nầy. Sau năm 1918, linh mục Léopold Cadière (cố Cả) giúp củng cố và phát triển tu viện nầy. Phước viện Di loan sống âm thầm trong một khuôn viên khá rộng, cây cối rợp bóng quanh năm. Hằng ngày, các Dì Phước, luôn đi cặp đôi, đến các trường học giáo xứ để dạy giáo lý và khai tâm quốc ngữ miễn phí cho các em nhỏ, nhờ công khai trí nầy mà tất cả người công giáo hạt Ðất Ðỏ đều biết đọc chữ quốc ngữ. Các nữ tu lo tu hành  nhưng cũng góp phần vào việc phát triển kinh tế, như sản xuất muối ăn, nuôi tằm, quay tơ, dệt lụa. Thuở ấy các loại vải nội hóa khổ ngắn, nhưng phước viện Di loan đã dệt thao, lụa khổ rộng như hàng ngoại hóa nhờ biết cải biến khung cửi (máy dệt bằng tay).  Hàng tơ lụa của Phước viện nầy  có thời đã nổi tìếng trên thị trường Ðông dương, gọi là “Hàng Tơ Lụa Cửa Tùng”. Hàng nầy còn xuất khẩu sang Pháp và quanh vùng Ðông Nam Á nữa. Phước viện cũng cung cấp các loại thuốc tây thay các loại cao đơn hoàn tán để trị các bệnh thông thường như cảm mạo, nhức đầu, đau bụng, ghẻ chốc,v.v...
     Sau ngày đất nước bị chia đôi, 01-08-1954, Phước viện Mến Thánh Giá Di loan  đã dời vào  thánh địa La vang, Quảng trị.
     * Dòng Xi tô Phước sơn : Linh mục Henri Denis, tên Việt là Cố Thuận, người  Pháp, giáo sư Tiểu chủng viện An ninh, năm 1918 thành lập dòng khổ tu “Ðan viện Xi tô” đầu tiên tại Việt nam trên khu đất hoang vắng thuộc tổng Thủy ba, phủ Vĩnh linh, bên rìa Trường sơn. Khoảng vài chục năm sau, Dòng nầy phát triển thêm dòng Châu sơn ở Phát diện (Bắc Việt). Năm 1949, vùng Phước sơn mất an ninh, ngày 26-04-1953, cha Bề Trên (người Việt), 2 Cha khác và 2 Thầy bị bắt giam tại mật khu Ba lòng, Quảng trị, Nhà Dòng bị Việt minh chiếm, các đan sĩ di tản vào Sài gòn và lập các đan viện mới như Phước lý ở Thủ đức, Phước sơn ở Phúc lộc (Bà rịa),Thiên phước ở Vũng tàu, Phước vĩnh ở Trà vinh (Miền Tây).
     Một vài Giáo xứ điển hình    
     Họ Di loan : Di loan vừa là tên giáo xứ vừa tên làng hành chánh. Theo Danh Sách Xã Thôn Trung Kỳ của Phủ Thủ Hiến Trung Phần Việt Nam thì làng nầy tên là  Di Luân thuộc tổng Hiền lương, phủ Vĩnh linh, tỉnh Quảng trị. Di loan là quê quán của Ðức cha Lê hữu Từ, Giám mục Phát diệm. Phong thổ Di loan khá đẹp, mặt tiền làng hướng về phía nam, nơi dòng Hiền lương (Bến hải) lững lờ chảy ra biển. Dọc bờ sông, tầng thấp làm ruộng muối, tầng cao ruộng lúa, đến một con đường khá rộng suốt từ đầu đến cuối làng. Sau con đường nầy là cư dân, nhà cửa vườn tược xanh tươi. Giữa làng, phía mặt tiền nhìn ra sông, một ngôi thánh  đường trang nghiêm cổ kính kiến trúc theo nghệ thuật gothique của châu Âu. Ngày lễ lớn và chúa nhật, ba chuông cùng đổ hồi dồn dập ngân vang khắp vùng hải ngạn Cửa Tùng. Cai quản họ đạo nầy là  linh mục Léopold Cadière, tên Việt là Cố Cả, thuộc hội Thừa sai Ba lê (Mission Étrangère de Paris), một học giả uyên bác, đến Việt nam năm 1892, giáo sư Tiểu chủng viện An ninh, Cửa Tùng 1893-1894, Quản xứ Di loan kiêm Quản hạt Ðất Ðỏ từ tháng 9-1918 đến tháng 3-1945, bị  Nhật bắt giam 5 tháng trong dịp Nhật đảo chánh Pháp tại Việt nam. Ngày 19-12-1946 bị Việt minh bắt đi an trí tại Vinh (Xã Ðoài) cho đến ngày đình chiến được trả tự do và về hưu trí  tại nhà Hưu dưỡng Tòa Giám mục Huế. Năm 1942. cố Cả mừng Kim Khánh  (50 năm linh mục) tại Di loan, dịp nầy được chính phủ Pháp  tặng Bảo Quốc Huân Chương  (Légion d’honneur) và huy chương khác của Chính phủ Nam Triều, bởi ngài là nhà bác học qua những công trình khoa học, văn hóa, xã hội.. Năm 1990, Chính quyền Hà nội đã vinh danh Lépold Cadière là “Nhà Huế Học” và “Nhà Việt Nam Học” do những công trình nghiên cứu  của ngài đã làm cho thế giới biết đến văn hóa, nghệ thuật và lịch sử Việt nam.
     Tháng 8 năm 1954, Di loan đã di cư vào Nam và định cư tại An đôn, Quảng trị, đến mùa hè đỏ lữa 1972, phân tán nhiều nơi trên lãnh thổ Việt nam Cộng hòa.
     Họ An ninh : An ninh là một làng công giáo toàn tòng. An ninh vừa là tên làng hành chánh vừa là tên giáo xứ. Còn có tên gọi khác là làng Phường, Họ Phường. Người An ninh tính tình hiền hòa. Nhà thờ họ nầy khá lớn, kiến trúc dáng vẻ cổ kính, mặt tiền trang trí hoa văn bằng mảnh kính mảnh sành của dĩa bát xưa đập vỡ. Nhà thờ An ninh  là nơi Giáo hạt Ðất Ðỏ tổ chức kiệu Mân côi (Môi khôi) mỗi năm với hàng ngàn giáo hữu từ nhiều giáo xứ , đoàn kiệu kéo dài hàng cây số, chuông, chiêng , trống đại, trống cà rầng, cờ phướn rợp trời.
     Hai họ Di loan và An ninh đã cung cấp cho Giáo hội nhiều giáo sĩ và tu sĩ.
     Họ An do Tây : Là  một làng công giáo toàn tòng. An do Tây là tên làng hành chánh vừa là tên giáo xứ. An do Tây có một Hội Hát (Ca đoàn)  có vẻ chuyên nghiệp, hát la-tinh với đàn phong cầm (orgue) khá hay, có đội Nghĩa Binh Thánh Thể rất linh hoạt. Nhà thờ An do tây có tháp cao vút tưởng chừng như thấu từng mây. 
     Họ Ba Ngoạt : Là một giáo xứ lớn, đông giáo dân của ba làng Ba bình, Bình đức và Hòa lạc  thuộc tổng Hồ xá phủ Vĩnh linh hợp thành. Người giáo dân Ba ngoạt tính tình hiền hòa chân thật, giữ đạo sốt sắng, trung kiên, là nơi cung cấp cho giáo hội nhiều  linh mục và tu sĩ nam nữ. Di cư 1954, Ba ngoạt định cư tại  La vang Trung. Mùa hè đỏ lửa 1972, La vang Trung tản mác nhiều nơi ở miền Nam Việt nam : Sông pha (Ninh thuận), Suối nghệ ((Bà rịa), Cam ranh (Khánh hòa), Bình tuy, Quảng biên (Biên hòa).....
     Hai họ Cao xá và An lộc : Cao xá có ngôi thánh đường đẹp, giáo dân  sống đạo đức, sốt sắng, kinh tế sung túc nhờ có nhiều ruộng. Cao xá là quê quán của cụ Nguyễn hữu Bài, Thượng thư bộ Lại kiêm bộ Hộ, sung Cơ Mật viện Ðại thần dưới triều vua Khải Ðịnh.
An lộc là họ nhánh của Cao xá, có nhiều ruộng tốt, dân số tuy ít nhưng phú túc, sống đạo trung kiên. Hai họ nầy thuộc tổng Xuân hòa, ở bờ nam sông Bến hải nên khỏi di cư 1954, nhưng trong chiến tranh 1960-1975, giáo dân hai họ nầy phải di tản đến tạm trú tại Hà thanh (Gio linh) và Cam lộ, đến mùa hè đỏ lửa 1972 phải phân tán đến định cư tại Suối nghệ (Bà rịa), Sông pha (Ninh thuận), Quảng biên (Biên hóa) .v.v...
     Bốn họ An bằng, An lễ, An ngãi, An trí : Có nhiều Nữ Tu ở dòng Mến Thánh Giá Phủ cam (Huế). Di cư 1954, định cư tại La vang hữu. Hè đỏ lửa 1972 phân tán đến nhiều địa phương khác như Phước long, Long khánh, Cam ranh (Khánh hòa), Suối nghệ (Bà rịa), Bình tuy, v.v...
   
      Họ Hòa ninh : Nơi cung cấp cho Giáo hội nhiều giáo sĩ và tu sĩ nam nữ. Giáo dân Hòa ninh có gốc từ ba làng : An du bắc, An ninh và Di loan. Di cư 1954 định cư tại La vang thượng . Hè đỏ lửa 1972 tản mác nhiều nơi như Suối nghệ (Bà rịa), Sông pha (Ninh thuận), Bình tuy,v.v.....
      Họ Loan lý : Trong số 19 giáo xứ thuộc Giáo hạt Ðất Ðỏ của Giáo phận Huế di cư vào tháng 8 năm 1954, 18 giáo xứ định cư tại Quảng trị đều tan rả do chiến cuộc mùa hè 1972, phân tán đến định cư tại các địa điểm “Khẩn hoang Lập ấp”  như Sông pha (Ninh thuận), Vĩnh linh (Cam ranh), Bình tuy, Quảng biên (Biên hòa), Bầu cá, Thái thiện (Long khánh)  hay các khu Dinh điền Phước long, Bình long, Tánh linh ,v.v... và nhập vào Giáo phận địa phương. Duy chỉ Giáo xứ Loan lý  tồn tại  đến nay tại Lăng cô thuộc Giáo hạt Hải vân, Giáo phận Huế.
     Loan lý trong thời kỳ sơ khai chỉ là một xóm đạo, sau phát triển thành họ đạo, có tên là họ Biện Hoản (Biện là một chức nhỏ phụ trách một số việc trong họ đạo, Hoản là tên của người phụ trách). Sau đó lấy tên chính thức là “ Luân lý” , theo sổ bộ viết bằng hán nôm  cuả Họ gọi là “Hội Giáo Luân Lý”.
     Theo niên lịch của Ðịa phận Huế từ năm 1945 trở lên trước, ở mục sinh quán và bổn sở (Họ phụ trách)  của các linh mục, năm thì ghi là Luân lý, năm khác lại là Loan lý.
     Giáo xứ Loan lý do giáo dân hai làng hợp lại : 2/3 giáo dân thuộc làng Di loan, mang dòng họ Hoàng, họ Lê; còn 1/3 giáo dân thuộc làng An du Bắc, mang họ Dương, họ Nguyễn và họ Phùng. Nói cách khác, ở Loan lý, những người mang họ Hoàng và họ Lê  là gốc làng Di loan, những ai mang họ Dương, họ Nguyễn, họ Phùng là gốc làng An du Bắc
     Loan lý còn tồn tại đến nay  là bởi khi di cư,  được linh mục Phan văn Cơ dẫn dắt đến định cư trên bãi cát Lăng cô dọc quốc lộ 1 dưới chân đèo Hải vân, nơi đây phong cảnh hữu tình, biển sâu, núi cao, đầm rộng, có nhà nghỉ mát của vua Bảo Ðại, của Linh mục già  Giáo phận Huế.
     Lăng cô cũng là địa điểm lịch sử : Khi vua Hàm Nghi bị bắt ở Hà tịnh được đưa về Thuận an (Huế), sau đó được chuyển xuống tàu vào Lăng cô, rồi từ Lăng cô Vua lên tàu La Comette vào Sài gòn. Từ Sài gòn xuống tàu  sang Alger. (Theo sách 13 Vua Nhà Nguyễn).
     Loan lý ban đầu được Cha Sở Di loan coi sóc, nhưng kể từ năm 1921, các Linh mục sau đây quản xứ :    
     
     Lm.Mathêô Nguyễn hữu Oai   1921-1923 
     Lm.Giuse Phạm văn Huấn 1923-1928
     Lm.Phêrô Nguyễn văn Giáo    1928-1930 
     Lm.Phêrô Ðổ khắc Tuế        1930-1936
     Lm.Giuse Nguyễn văn Kiểu     1936-1937 
      Lm. Ðôminicô Phạm văn Yến 1937-1941
     Lm.Phanx-Xavie Trương văn Lương 1941-1947 
     Lm Phan văn Ngãi (hưu trí)    1947-1948 
     Lm.Giacôbê Phan văn Cơ 1948-7/1954
    
     Kể từ Di cư tháng 8-1954 :

     Lm.Giacôbê Phan văn Cơ   1954-1957  
     Lm.Phêrô Trần văn Ðiển   1957-1958
     Lm.G-Baotixita Trương văn Thắng 1958-1963
     Lm.Phao lô Ngô văn Triệu  1963-1965
     Lm.Phanx-Savie Trần văn Cần 1965-1966      
     Lm.Tađêô Hồ bảo Huỳnh  1966-1969
     Lm.Phêrô Huỳnh văn Hóa  1969-1972  
     Lm.Giuse Ngô văn Trọng 1972-1975
     Lm.Anrê Nguyễn văn Trúc 1 tháng 
     Lm.Batôlômêo Nguyễn văn Phước 1975-1978
     Lm.Giuse Cái hồng Phượng 1978-2008.
     Nhờ sự hy sinh của toàn thể giáo hữu Loan lý và đặc biệt của một gia đình ân nhân, giáo xứ đã xây dựng một ngôi thánh đường khang trang vào năm 1995, thời cha Cái hồng Phượng làm quản xứ.
     Ơn Gọi của Giáo xứ Loan lý :
   
     *15 Linh mục :

Lm.Tôma Nguyễn văn Luật (1901-1972), Lm.Phê rô Hoàng Kính (1913-2007)
Lm.Giuse Hoàng Cẩn, Lm.An tôn Dương Quỳnh, Lm. Ðôminicô Nguyễn Tưởng, Lm.Hoàng Quốc, Lm.Hoàng Nhật, Lm.Hoàng Tuân, Lm.Hoàng Chỉ, Lm.Nguyễn Trần Vĩnh Linh (ở La ngà), Lm.Hoàng Sơn (ở Nha trang), Lm. Hoàng Thời (ở Mỹ), Lm.Phùng Chí (ở Mỹ), Lm.Nguyễn kim Phú (ở Mỹ), Lm. Gia Công, dòng Thánh Tâm Huế. Còn một số Giáo sĩ và Tu sĩ không được biết tên hiện ở Hoa kỳ và Úc châu.
     Các Nam Tu sĩ:Thầy Lôrensô Hoàng Trương và Thầy An phong Hoàng Nỉ, dòng Thiên an Huế.

     *Các Nữ Tu sĩ :

            Nguyễn thị Hiếu, Dương thị San, Mến Thánh Giá Di loan , đã qua đời
            Hoàng thị Thiệp, Hoàng thị Tu, Mến Thánh Giá Di loan, đã qua đời.
            Hoàng thị Pha, Mến Thánh Giá Tam tòa (Quảng bình), đã qua đời,
            Hoàng thị Máy, Mến Thánh Giá Tam tòa (Quảng bình), đã qua đời,
            Hoàng thị Ðủ, MTG Di loan, Maria Hoàng thị Lê, MTG Tam tòa, ở Italia,
            Madalêna Hoàng thị Hoàn, Mến Thánh Giá Huế,
            Matta Nguyễn thị Phiến, Mến Thánh Giá Huế,
            Maria Phùng thị Thức, dòng Phú xuân, Huế.

     Phần Kết
     Ðạo Công giáo hiện diện trên nước Việt nam từ năm 1596, đời chúa Nguyễn Hoàng. Tính đến năm 1954 chia đôi đất nước, di cư, thì Phúc Âm đã được rao truyền  ở Việt nam trên 350 năm, trải qua nhiều giai đoạn, lúc khó lúc dễ, khi bắt khi tha, nhưng khắc nghiệt và tàn ác nhất là dưới triều ba vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Ðức đã ban hành các đạo dụ bài trừ đạo Công giáo, thực thi các cực hình rất tàn nhẫn như chém đầu, thắt cổ, xẻo thịt, kẹp da bằng kềm lửa, giam đói, tù đày, tra tấn, nung mảnh sành nóng khắc lên trán hai chữ tả đạo, tước đoạt hết nhà cửa, của cải của người có đạo.
     Trong 350 năm, cả nước có khoảng 3000 nhà thờ bị đốt phá và trên 100.000 người công giáo bị giết chết (theo Việt nam Giáo sử). Họ là những công dân nước Việt, không phản quốc, không chống vua, không phạm tội ác, họ bị giết chết chỉ vì tín ngưỡng họ theo không được triều đình chấp thuận. Họ chịu tử hình vì không bỏ đạo, không bước qua Thánh Giá. Họ chết cách hiền lành, không hận thù, chết trong lời cầu nguyện. Tháng 9 năm 1885, giáo dân Cửa Tùng chống lại quân Văn thân  với tính cách đề kháng để sinh tồn, để bảo vệ mạng sống, một sự tự vệ rất chính đáng chống lại chủ trương giết hàng loại, giết tập thể người công giáo hạt Ðất Ðỏ.
     Vì vận nước điêu linh, giang sơn nghiêng ngửa, Giáo hạt Ðất Ðỏ chung cảnh quốc họa, giáo dân Ðất Ðỏ di cư 1954 phân tán khắp nơi, từ các thành thị, làng mạc miền Trung và miền Nam Việt nam, sau 1975 di tản đến những phương trời xa thẳm nơi châu Âu, châu Úc, châu Mỹ ... Dù phiêu bạt nhưng nặng tình hoài hương và mang  niềm vui chung : “ Niềm Vui  Công Giáo “.
     Vui thích được làm người Công giáo,   
     Sống chung trong con tàu Giáo hội,
     Dù gặp bão tố hay phong ba,
     Chúa  làm cho sóng êm gió lặng.
     Dù bị khổ nạn hoặc tai ương,
     Chúa dang tay đoái thương nâng đỡ.
     Dù gặp lúc mất mùa, đói khổ,
     Chúa chăn nuôi, chẳng thiếu thốn chi !.
     Dù phong hủi  đui què câm điếc
     Chúa chữa lành. Cứ việc cầu xin !.
     Dù người đời chê khinh nhạo báng,
     Chúa xót thương vỗ về an ủi.
     Dù đàn áp bắt bớ tù đày,
     Chúa giúp cho can trường bất khuất.
     Dù thế gian  xảo quyệt phi luân,
     Chúa thương kẻ từ tâm lương thiện.
    Dù đời nầy nham hiểm gian manh,
    Chúa dạy sống hiền lành công chính.
   Dù gặp lúc âm u tăm tối,
   Chúa rọi soi ánh sáng lối đi.
   Dù lạc hướng sai nẻo nhầm đường,
   Chúa dẫn dắt về quê hương thật.
   Dù phải lên thác xuống gềnh,
   Chúa cho vượt nhẹ, căng buồm lướt êm.
   Con tàu Giáo hội cập bến,
   Ðưa người lữ khách đến bờ bình an.
   Thiên đàng một cõi thanh nhàn,
   Thảnh thơi vui hưởng muôn vàn vinh phúc.
  Dương Bỉnh -   Montréal, Thu 2008.    
  (http://ttntt.free.fr/archive/DuongBinh3.html )

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2007

 

 HY SINH MẠNG SỐNG ĐẾN CÙNG ĐỨC TIN

  

 

 

        Vào ngày 19 thánh 6 năm 1988 tại Rôma, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã long trọng tôn phong 117 vị thánh anh hùng tử đạo tại Việt Nam. Trong số các ngài có 96 vị người Việt nam và 21 vị thừa sai Nước ngoài. Thực là một biến cố trọng đại và đầy niềm vui, vì đây là lần đầu tiên Giáo hội tôn phong một số rất đông các thánh tử đạo, và nêu lên cho toàn thể Giáo hội những con người đã không ngần ngại hy sinh mạng sống mình để làm chứng cho Thiên Chúa và Đức Giêsu, làm chứng cho Đức tin mà các ngài đã lãnh nhận với một lòng trung kiên bất khuất. Con số 117 vị tử đạo chỉ là con số nhỏ của hơn 100 000 vị tử đạo tại Việt nam trong gần 300 năm dưới thời những vua quan Triều Nguyễn từ các thế kỷ 17, 18, và 19. Thực không có bút mực nào tả xiết những đau khổ và cực hình các ngài đã chịu vì danh Chúa. Trong số các vị tử đạo, chúng ta phải kể đến những giám mục, linh mục, tu sĩ nước ngoài và cả các vị Việt nam, ngoài ra còn phải kể đến số đông những người giáo dân thuộc đủ mọi thành phần, từ những người như trùm họ, chánh trương cho đến những giáo dân, những người trong hàng ngủ quan triều đình hay binh lính.

        Những tâm tình của các thánh tử đạo là những tâm tình cao cả, của những con người có trái tim hòa nhập với trái tim của Con Thiên Chúa làm người, đó là những con người biết coi thường mạng sống, coi thường những danh lợi trần gian, và khi đối diện với cái chết, các ngài không ngần ngại chọn lựa dứt khóat thuộc về Thiên Chúa hơn là chút vinh quang trần thế. Thầy giảng Anrê Phú Yên 19 tuổi, đã chịu tử đạo rất sớm vào năm 1644, với sự chứng kiến của cha Đắc Lộ. Cái chết của thầy Anrê là một cái chết can đảm, thầy bị lính dùng đòng đâm ba nhát thấu ngực, nhưng vẫn chưa chết. Sau đó lính dùng mã tấu chém vào cổ đến hai nhát, đầu mới lìa khỏi cổ. Cha Đắc Lộ, dòng tên đã gói chiếc đầu của thầy giữ lại cẩn thận, và liệm xác thầy để gửi về Macau cất giữ như một báu vật của vị thánh tử đạo. Phần 117 vị thánh tử đạo, bắt đầu là hai vị tử đạo đầu tiên vào năm 1745 tại Thăng Long miền Bắc, đó là hai cha thừa sai dòng Đaminh là các cha Phanxicô Tế và Matthêu Dậu. Vị tử đạo cuối cùng là thánh Phêrô Đa, một giáo dân làm nghề thợ mộc, chịu tử đạo ở Qua Linh. miền Bắc năm 1862. Vào năm 1862, cuộc bách hại bùng lên ở miền Nam, hai nơi bị bách hại dữ dội là Biên Hòa và Bà Rịa với số người bị thiêu sống lên tới 846 vị.

        Các vị tử đạo cảm nếm niềm vui chịu chết vì danh Chúa, nên trong thời gian bị gông cùm tù tội, các ngài đã biết chuẩn bị tinh thần sẵn sàng để đối diện với cái  chết. Thời gian tù tội khắc khổ không làm các ngài sợ hãi hay khiếp nhược, nhưng càng làm cho tinh thần các ngài mãnh mẽ hơn. Thánh Anrê Dũng Lạc bình thản chờ đợi để đến ngày được phúc tử đạo, ngài vui vẻ thốt lên những lời đầy hạnh phúc: “Đông qua tiết lại thời xuân tới. Khổ tạm mai sau hưởng phúc an. Làm kẻ anh hùng chi quản khó. Nguyện xin cùng gặp chốn thanh nhàn”. Trong số các vị tử đạo có những người làm quan lớn trong triều đình như thánh Micae Hồ đình Hy, hơn ba mươi năm phục vụ dưới ba triều vua, nhưng ngài đã không vì chút danh lợi trần gian mà chối bỏ đức tin, quyết một lòng trung thành với Thiên Chúa cho dù phải chịu chết. Trước những lời mềm mỏng và chiêu dụ của nhà vua, ngài vẫn một lòng khẳng khái cương trực, từ bỏ mọi vinh hoa phú quí bổng lộc của triều đình vì muốn trung thành và nên giống Chúa Kitô: “Tâu bệ hạ, đã 30 năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết lòng yêu nước. Nay hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Đức Kitô."

        Có những vị rất trẻ tuổi như chủng sinh Tôma Thiện, tuy trẻ tuổi nhưng đã bắt đầu cảm nếm niềm vui của phúc tử đạo, và đã có những chọn lựa rất can đảm và sáng suốt. Quan lớn, vì thấy thầy còn quá trẻ và khôi ngô tuấn tú, nên đã đưa ra những lời dụ dỗ và hứa hẹn nhiều phần thưởng thế gian, nhưng Tôma Thiện vẫn cương quyết một lòng, không chút sờn lòng trước những cám dỗ đường mật, thầy thẳng thắn trả lời với quan: “Đạo dạy tôi thờ Thiên Chúa là đạo thật, tôi sẵn sàng chịu chết chứ không bỏ đạo… Tôi chỉ mong chức quyền trên trời, chứ không màng đến quyền chức trần thế”. Có những vị linh mục truyền giáo cũng rất trẻ tuổi, vừa mới được bề trên sai đến và đặt chân đến nước Việt nam xa lạ thì bị bắt như cha thánh Theôphan Vena. Khi bị bắt và xét xử, quan chỉ xin ngài bước qua thập giá thì được tha bổng. Nhưng bước qua thập giá dù là một hành vi rất nhẹ nhàng để được bảo vệ mạng sống thì ngài đã cương quyết từ chối tất cả mọi mưu mô khôn khéo của vua quan. Thánh Thêôphan Vena đã cương quyết trả lời: “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được? Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”. Có những trường hợp lương tâm tế nhị và nan giải khi vua quan kết tội các ngài là theo Tây và phản bội lại tổ quốc, nhưng các ngài đã chân thành giải thích biện phân cách mạch lạc cho mọi người biết các ngài không hề phản bội tổ quốc, cũng như không hề phản bội lại vua gì cả mà các ngài luôn nhìn thấy sự thẳng thắn trong lòng tin trung kiên của mình. Các ngài vẫn một lòng trung thành với tổ quốc khi các ngài yêu mến phụng sự Thiên Chúa là Cha cao cả trên trời. Không hề bao giờ có thể vì trung thành với trung phụ là vua trần thế mà phản bội lại với Thượng phụ là Cha trên trời: “Tôi kính Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như trung phụ, và kính song thân như hạ phụ. Không thể nghe cha ruột để hại vua, tôi cũng không thể vì vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được”. Ngay cả có những vị là lính của triều đình như thánh Trần văn Trung, ngài phân biệt rất rõ bổn phận vâng phục triều đình trong những điều đúng đắn như chiến đấu chống quân thù và bổn phận vâng phục tuyệt đối với Thiên Chúa mà ngài hằng yêu mến : “Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, nhưng bỏ đạo thì không bao giờ”.

        Mừng lễ các thánh tử đạo tại Việt Nam chúng ta tự hào là con cháu các vị tử đạo. Chúng ta vui vì các bậc tổ tiên của mình đã sống thực là xứng đáng và đã kéo nhiều ơn lành của Thiên Chúa cho các con cháu. Thiên Chúa chúc phúc cho các con cháu là chúng ta vì biết bao công đức của tổ tiên ông bà chúng ta là các vị thánh tử đạo trung kiên bất khuất. Ngay cả dù không chết ở pháp trường, các ngài cũng đã sống một đời sống xứng đáng theo những mối phúc của Tin mừng. Ngày nay chúng ta không phải đối diện với cái chết tử đạo, nhưng  là con cháu các vị tử đạo, chúng ta muốn tiếp bước và được mời gọi tiếp bước các bậc tổ tiên ông bà của chúng ta trong đời sống chọn lựa trung tín với Thiên Chúa của mình. Việc tử đạo của chúng ta ngày nay là đời sống theo Tin mừng mà Chúa Giêsu đã công bố. Đây cũng là việc tử đạo vì được kết hợp nên giống với Chúa Giêsu trong những hy sinh bé nhỏ của đời sống hằng ngày.

https://tgpsaigon.net/bai-viet/cac-thanh-tu-dao-viet-nam-lm-lvc-49873

Thứ Năm, 20 tháng 4, 2006

Thánh Bartôlômêô Tông đồ

Ngày 24/8 Kính Nhớ
             Mỗi người đều có một lối sống, mỗi người đều có một phong cách khác nhau. Các thánh cũng vậy. Cuộc sống của các thánh luôn có một mẫu số chung: sống giống Ðức Kitô. Thánh Ba-Tô-Lô-Mêô, tông đồ, Giáo Hội tôn kính hôm nay cũng không nằm ngoài định luật muôn thuở: họa lại hình ảnh thật nhất của Chúa Giêsu Cứu Thế.
BA-TÔ-LÔ-MEÔ ÐƯỢC TUYỂN CHỌN LÀM TÔNG ÐỒ
batolomeo

Philipphê gặp ông Na-tha-na-en và nói: "Ðấng mà sách Luật Môsê và các ngôn sứ nói tới,chúng tôi đã gặp: đó là ông Giêsu, con ông Giuse,người Na-Da-Rét". Ông Na-tha-na-en liền bảo: "Từ Na-Da-Rét,làm sao có cái gì hay được ?". Ông Philipphê trả lời:"Cứ đến mà xem" ( Ga 1,45-46 ).
Cứ đến mà xem là lời mời gọi ông Na-tha-na-en trở thành tông đồ đích thực của Chúa Giêsu. Sự kỳ diệu và hết sức lạ lùng là khi Chúa Giêsu vừa thấy Na-tha-na-en, Người đã nói:"Ðây đích thật là một người Is-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối" ( Ga 1, 47 ). Việc Chúa gọi Na-tha-na-en tức Ba-Tô-Lô-Mêô thật là huyền nhiệm vì chính Chúa đã thấy, đã biết ông khi ông đang ở dưới cây vả (Ga 1,48).Chúa nói: "lòng dạ của Na-tha-na-en không có gì gian dối". Ðiều này nói lên hồng phúc của Ba-Tô-Lô-Mêô vì tâm hồn mới là quan trọng . Người ta thường ví von: "Hữu ư trung xuất hình ư ngoại" ( Trong có gì thì biểu lộ ra bên ngoài ). Chính lúc, Na-tha-na-en tuyên xưng: "Thưa Thầy, chính Thầy là con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Is-ra-en "( Ga 1, 49).Chúa
Giêsu đã tuyển chọn Na-tha-na-en làm "Apostoloi", nghĩa là tông đồ. Ðó là giờ cứu độ, giờ hồng phúc của Ba-Tô-Lô-Mêô, giờ Ba-Tô-Lô-Mêô được lột xác trở nên hoàn toàn tùy thuộc vào Chúa. Làm tông đồ nghĩa là thuộc trọn vẹn về Chúa.
NHƯ MỌI TÔNG ÐỒ BA-TÔ-LÔ-MÊÔ ÐƯỢC SAI RA KHƠI (DUC IN ALTUM) THẢ LƯỚI
              Thả lưới nghĩa là phải ra xa bờ, chọn chỗ nhiều cá. Ra khơi có nghĩa là tin vào Chúa vì có thể trong cuộc hải hành sẽ gặp sóng to, gió lớn, sẽ gặp nhiều chuyện trục trặc, nhưng tin, cậy vào Chúa sẽ được Chúa giải thoát .Ba-Tô-Lô-Mêô đã cùng với các bạn trong nhóm 12, theo Chúa Giêsu trên khắp các nẻo đường truyền giáo, theo Thầy làm chứng có nước trời, có Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Theo Thầy để học hỏi những kinh nghiệm của Thầy, lãnh nhận những tư tưởng, chân lý và Tin Mừng, giáo lý của Thầy hầu chuẩn bị cho việc ra khơi mai sau. Theo Thầy để lãnh nhận quyền và sự thật mà Thầy sẽ trao phó cho: "Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em". Và, sau khi Chúa về trời, các tông đồ lãnh nhận Chúa Thánh Thần, Ba-Tô-Lô-Mêô được sai đi loan báo Tin Mừng tại Ấn Ðộ, vùng Lycôni và Arménie. Thánh Ba-Tô-Lô-Mêô đã làm chứng cho Chúa phục sinh bằng gương sáng đời sống thánh thiện, đạo đức của Ngài, bằng những lời chân thật, tài lợi khẩu, hoạt bát và những phép lạ Chúa ban cho, thánh nhân đã đưa được biết bao người ngoại giáo trở về.Thánh nhân đã trở nên giống Chúa Kitô như thánh Phaolô nói : "Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Ðức Kitô sống trong tôi "và" Tôi có thể làm được mọi sự trong Ðấng ban sức mạnh cho tôi". Chính tình yêu Chúa Kitô thúc bách thánh nhân.
Ba-Tô-Lô-Mêô đã thực hiện việc rao giảng bằng chính cuộc đời của Ngài: từ bỏ, hy sinh và hết lòng trở nên giống Chúa Kitô. Thánh nhân đã trừ quỉ cho công chúa của vua Polêmon và nhiều người khác, đặc biệt Ngài đã hoán cải và đưa cả gia đình nhà vua polêmon trở lại đạo công giáo .
Thánh nhân đã làm chứng cho Chúa bằng chính mạng sống của mình đúng như lời Chúa phán: "Tôi tớ không hơn chủ". Vì ghen tức thánh nhân, các sư sãi và các quan chức triều đình đã vu cáo, khai gian cho thánh nhân đủ điều và Ngài đã bị vua Attiges bắt, bỏ tù, hành hạ đủ mọi cực hình và lãnh án trảm quyết cho tới hơi thở cuối cùng vào năm 52.
               Lạy thánh Ba-Tô-Lô-Mêô, tông đồ xin đến giúp chúng con để chúng con có lửa nhiệt thành như thánh nhân hầu làm chứng cho Chúa sống lại.
Xin cho chúng con ơn can đảm để chúng con luôn biết lướt thắg mọi thử thách chông gai của cuộc đời.
Xin thêm đức tin cho chúng con để chúng con chỉ biết cậy trông vào Chúa.

Linh mục Giuse Nguyễn hưng Lợi DCCT

http://mtgcaimon.net/mtgnews/index.php/suy-niem/hanh-cac-thanh/789-thanh-batolomeo-tong-do.html

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2005

 

ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO  

 

        “Không hiểu biết mà vẫn tin”, đó là lời mỉa mai thường có từ những người ngoài Công Giáo phê bình tín đồ Công Giáo. Họ cho rằng “người Công Giáo” u mê, mù quáng, bịt tai che mắt trí thức, chỉ biết tin tưởng một cách thụ động. Họ lấy câu nói của Đức Giêsu “Phúc cho ai không biết mà tin” để xây dựng sự phản biện của họ. Trên thực tế, nếu sự tin tưởng đến sau sự hiểu biết của trí óc, thì điều mình tin đã được trí óc thấy và hiểu rõ ràng, nó trở thành hiện thực, sự tin tưởng còn đặt ra làm gì. Thêm nữa, lối tin tưởng một cách thụ động vẫn là điều kiện sống của con người. Trẻ con tin vào cha mẹ; học trò tin vào thầy giáo; quần chúng tin vào lãnh tụ… Ngay cả những người mỉa mai nêu trên cũng đã và đang sống như vậy. Nói chung, tin tưởng là sự qui phục của tri thức hướng về một đối tượng nào đó. Tuy nhiên niềm tin dựa vào tri thức thường nghiệm này không phải là niềm tin siêu nghiệm (transcendentality) mà Công Giáo nói tới.

        Có sự khác biệt một trời một vực giữa một vị lãnh tụ nói với kẻ đi theo của hắn, “Phúc cho ai không biết mà tin”, và khi Đấng Tạo Hóa nói câu đó với kẻ thụ tạo. Thiên Chúa không nói tới những đối tượng tri thức, nhưng nói tới khả năng tri thức giới hạn của con người. Đối với Công Giáo tin vào Thiên Chúa được gọi là “đức” tin, vì sự cảm nhận này có tính siêu nghiệm (hiểu biết không do kinh nghiệm trí thức) và là một đức hạnh (virtue). Ba đức hạnh phải có để gia nhập Công Giáo là đức tin, đức cậy, và đức mến. “Đức tin” đứng đầu vì là căn gốc của tất cả. Nếu không tin có Thiên Chúa, làm sao chúng ta có thể đến với Người (Dt 11:6). Để nhấn mạnh điều này, Giáo hoàng Phanxicô đã chọn chủ đề “Ánh Sáng Đức Tin” (Lumen Fidei) cho thông điệp đầu tiên trong triều đại của ngài. Công Giáo gọi giáo dân là “tín đồ” hay “tín hữu” cũng là cách minh xác họ là những “người có đức tin”. Trong số ba đức hạnh nêu trên, đức cậy và đức mến ý nghĩa đã rõ ràng, riêng đức tin thường dẫn đến những ngộ nhận và những hệ tư tưởng khác nhau dễ gây ra hoang mang. Vì vậy Kitô hữu chúng ta nên hiểu rõ bản chất của đức tin.

Đức tin là gì?

        Công Đồng Thứ Nhất (Nicea, 325) định nghĩa: “Đức tin là sự linh cảm, qua sự trợ giúp của Thiên Chúa, để chấp nhận chân lý siêu việt do Thiên Chúa tiết lộ. Chúng ta tiếp nhận lời Chúa không phải vì chúng ta hiểu được nội dung chân lý qua lý luận tự nhiên, nhưng do bởi chấp nhận thẩm quyền của Thiên Chúa, Đấng hằng hữu, Đấng chính là chân lý, Đấng tự biểu lộ, Đấng không lừa dối và không bị lừa dối.”

        Thần học đi sâu hơn vào bản tính của đức tin. Để giản dị hoá những ý niệm trừu tượng của thần học, tôi xin đưa ra một sự kiện cụ thể, đó là tín điều “Một Thiên Chúa có Ba Ngôi”. Linh ảnh này không ai thấy, không ai hiểu, nhưng Kitô hữu vẫn tin. Tại sao? Tại vì Đức Giêsu dạy như vậy. Theo thánh Augustine, đức tin là chấp nhận lời nói, mình nghe được từ đấng có thẩm quyền. Thánh Phaolô nói, “Đức tin đến từ sự nghe” (Rm 10:17). Người duy nhất có thẩm quyền nói ở đây là Thiên Chúa. Những gì Thiên Chúa tiết lộ được gọi là mạc khải. Qua mạc khải những sự thật siêu việt của Thiên Chúa được truyền cho con người. Con người, dù thông minh đến đâu cũng không thể tự mình tìm biết được. Đây là chứng từ của Đức Giêsu: “Không ai biết Con trừ Cha, và không ai biết Cha trừ Con và kẻ được Con mạc khải cho” (Mt 11:27). Như vậy đức tin là mối liên kết riêng tư của cá nhân với Thiên Chúa.

        Chúng ta hãy phân biệt giữa “sự tin tưởng” của đời thường và “đức tin”. Chẳng hạn chúng ta tin có dòng điện lưu chuyển trong vũ trụ. Dù không thấy dòng điện nhưng sự hiện hữu của nó đã được chứng minh, vì nó làm cháy sáng bóng đèn. Như vậy tin tưởng là thành quả của tri thức trải qua những biện luận, dựa vào những chứng cớ có thể kiểm chứng. Trái lại đức tin là tin vào điều mà mình chưa hề biết tới vì nó vượt khỏi tầm hiểu biết của con người. Trong đức tin không có lý luận, vì có dùng lý luận cũng không thể tìm ra. Đức tin hoàn toàn phụ thuộc vào ơn soi sáng từ Thiên Chúa đánh động và lôi cuốn tâm hồn của ta. Trí óc chỉ dùng để tiếp nhận chứ không dùng để hiểu. Đức Giáo Hoàng Gioan Phalô II nói, “Không ai hiểu được Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa là Đấng có thể hiểu được thì vị đó không phải là Thiên Chúa.” Cho dù có người nào đó tự xưng là đã dùng trí óc để hiểu chân lý thì nhận thức đó không phải là đức tin. Nó chỉ là sản phẩm tư tưởng của người đó. Đức tin không đến từ suy luận trí óc, nhưng là một ơn phước.

        Cha Karl Rahner, nhà thần học vĩ đại của Công Giáo, nói rõ hơn về ơn phước đức tin. Theo Rahner, khi Thiên Chúa nói với con người, Chúa không dạy bảo một kiến thức hay loan báo một tài liệu thông tin. Khi đó Chúa tỏ lộ tình yêu với nhân loại, mạc khải về mục đích tối hậu của sự sống, và niềm hy vọng tuyệt hảo của ơn cứu độ, cùng lúc Chúa ban ơn đức tin cho người nghe. Điểm khởi đầu của đức tin là cái gì đó thúc đẩy lý trí chấp nhận điều mình nghe, một nhận thức siêu nhiên nảy sinh trong ý thức (siêu nghiệm). Như vậy đức tin là một ơn phước về sự mạc khải.

Đặc tính của đức tin

        Công Đồng Trent (1545 -1563) dạy rằng đức tin không phải là trạng thái tĩnh của ý thức, mà là một động năng. Bởi vì đức tin không phải là một ý thức suông, đứng độc lập, nhưng biểu hiện trong việc làm. Đúng tên của đức tin là “hành vi đức tin”. Thần học dẫn giải thêm, nếu đức tin là sự qui thuận của tri thức, nó phải có một đối tượng nào đó nằm bên ngoài con người. Nhưng ở đây, người tin không nhắm vào một đối tượng bên ngoài, mà là mối cảm xúc dấy lên từ nội tâm. Rồi sức mạnh cảm xúc ấy tỏa ra bên ngoài tới khắp mọi chiều hướng. Hiểu một cách bình thường, những gì chúng ta thường làm như cầu nguyện, dự thánh lễ, giữ phép đạo… đều là những “hành vi đức tin”. Theo Thánh Thomas và Thánh Bonaventure, ngay khởi đầu khi cá nhân tự do chấp nhận Lời Chúa, chính sự quy phục ấy đã là một hành vi đức tin.

        Karl Rahner khảng định hành vi đức tin có ba yếu tố: siêu việt, có ý thức, và có ý chí tự do. Gọi là siêu việt vì đức tin là ơn của Thiên Chúa ban cho. Gọi là có ý thức vì đức tin được tiếp thu qua trí óc con người. Gọi là ý chí tự do vì cá nhân tự ý tin chứ không bị ép buộc phải tin. Cùng một nhận định, Thánh Thomas cho rằng đức tin là thái độ của trí óc chấp nhận chân lý thánh (divine truth); thái độ này được tác động bới ý chí; ý chí này được tác động bởi ơn Chúa. Qua nhận định của Karl Rahner và của Thánh Thomas, chúng ta thấy cả hai vị đều không nêu ra cái gì gọi là chứng cớ thực nghiệm hay biện luận trí óc, mà đưa ra ba tác động nối kết nhau: 1) Thiên Chúa ban ơn linh ứng. 2) Ơn này tác động ý chí tự do tiếp nhận. 3) Ý chí tác động tri thức chấp nhận. Trong diễn trình này Thiên Chúa không phá vỡ luật tự nhiên, bởi vì Thiên Chúa không ép buộc ý chí và tri thức phải chấp nhận những gì Chúa nói (Rm 4:16; GLCG 160). Nhận định của Rahner và của Thánh Thomas, vô hình trung, đã loại bỏ những niềm tin như mê tín dị đoan và sự tin tưởng mù quáng. Chúng là những niềm tin trống rỗng và tuyệt vọng. “Niềm tin mà không có chân lý thì không có khả năng cứu độ và không bảo đảm cho bước đi của chúng ta.” (Giáo Hoàng Phanxicô, thông điệp Lumen Fidel ‘Ánh Sáng Đức Tin’, chương 2, đoạn 24). Đồng thời chúng ta cũng nhận ra mê tín dị đoan là kết quả của kiến thức trí óc lạc đường trong bầu sương mù của dục vọng.

Công Giáo tin những gì

        Trước hết, Công Giáo tin những mạc khải về chân lý do Thiên Chúa tiết lộ, và những gì được rao giảng bởi Ngôi Lời nhập thế. Nguồn mạc khải này đã được ghi trong bộ “Thánh Kinh” và trong 4 sách Phúc Âm. Đó là truyền thống đúng nhất về đức tin của Công Giáo. Để tóm tắt những tín lý căn bản, vào thế kỷ II, các thánh Tông Đồ đã soạn ra bản văn gọi là “kinh Tin Kính” (Apostle’s Creed).

        Kế đó, tín hữu Công Giáo cũng tin vào những sự thật, do Giáo Hội rút ra từ mạc khải. Giáo Hội cô đọng chúng trong những mệnh đề gọi là tín điều (dogma), chẳng hạn tín điều “Đức Mẹ hồn xác lên trời”. Tín điều không phải là những điều do Giáo Hội tự ý đặt ra, nhưng do lãnh nhận từ Lời Chúa. Vì vậy mỗi tín điều đều hội đủ hai yếu tố: 1) Nói lên một sự thật. 2) Là thành phần của Lời Chúa. Ai không chấp nhận những tín điều do Giáo Hội loan truyền thì người đó không phải là tín đồ Công Giáo.

Tác động của đức tin

        Thánh Anselmo tóm lược tác động của đức tin trong châm ngôn “Đức tin đi tìm sự hiểu biết” (Fides quaerens intellectum). Đức tin thúc đẩy chúng ta hành động theo Thánh Ý Chúa nhờ đó mà cảm nghiệm sâu xa trong sự hiểu biết. Thánh Augustine nói, “Tôi tin để hiểu và tôi hiểu để tin”. Điều đó có nghĩa là đức tin phải có trước rồi sự hiểu biết về những gì mình tin sẽ tới sau. Hiển nhiên con người không thể đòi hỏi phải hiểu biết Thiên Chúa trước, rồi mới tin. Tuy nhiên chúng ta cũng không thể nói: “Tôi chỉ cần tin, tôi không cần hiểu biết”. Chúng ta cần cả hai. Tuy đức tin vượt khỏi lý trí nhưng không nghịch lại với lý trí, bởi vì cả đức tin lẫn lý trí đều là ơn phúc do Thiên Chúa ban cho. Trong thông điệp Fides et Ratio (Đức tin và Lý trí), đức Gioan Phaolô II viết, “Đức tin và Lý trí như đôi cánh giúp con người vươn cao trong chiêm nghiệm chân lý. Chính Thiên Chúa đã đặt trong tâm con người ước vọng tìm kiếm chân lý, để rồi cuối cùng con người nhận biết Thiên Chúa, ngõ hầu thấu đạt sự thật về mình một cách đầy đủ”.

        Khi Đức Giêsu ban phép lạ, Người luôn luôn đòi hỏi người lãnh nhận phải có đức tin. Đức Giêsu đã không thể ban phép lạ ở Nazaret vì dân nơi đó thiếu đức tin (Mc 6:5). Người kêu gọi môn đồ, “Hãy tin vào tin mừng” (Mc 1:15). Như vậy đức tin tác động vào tâm hồn con người khiến con người biết hy vọng vào những điều từ Thiên Chúa mà bình thường không thể nào xảy ra (Mc 1:22). Từ những sự kiện này đã dẫn tới một quan điểm thần học: “đức tin công chính hóa con người”, nghĩa là con người được cứu rỗi nhờ có đức tin. Cũng từ nhận định sơ khởi ấy, Thánh Phaolô đưa ra châm ngôn: “chỉ một mình đức tin” (sola fide. Rm 10:8-13; Gl 3:2). Tin Lành đã lấy chính câu nói này để làm nền tảng xây dựng môn thần học cứu rỗi. Hệ tư tưởng ấy đã khiến Tin Lành tách biệt với Công Giáo vì đã nhìn “đức tin” theo hướng khác. Đây là điểm rất quan trọng của tác động đức tin mà Kitô hữu chúng ta cần biết rõ.

        Sự khác biệt về đức tin giữa Tin Lành và Công Giáo không phải là chủ đề của bài này nên tôi chỉ trình bày một cách giản lược. Về phía Tin Lành, Luther bám sát mạch văn “chỉ có đức tin” suy luận rằng dù con người có làm lành cách nào cũng không xứng đáng vào thiên đàng. Con người được cứu độ chỉ nhờ có đức tin. Đức tin tự đứng một mình là luật duy nhất và là chìa khóa của ơn cứu độ. Như vậy Tin Lành đã thấy đức tin là một liên kết thuần tâm linh trong tâm hồn của mỗi cá nhân. Đàng khác, Công Giáo cho rằng đức tin rất cần thiết, nhưng không là nguyên lý duy nhất của ơn cứu rỗi. Đức tin chỉ là một đức tính trong 3 đức tính cần thiết: tin - cậy - mến. Tin Lành đã dừng lại ở đức tin, nơi chỉ là bước khởi đầu. Vả lại lời dạy của Thánh Phaolô không thể tách rời độc lập khỏi toàn bộ Phúc Âm còn gồm lời dạy của các vị tông đồ khác. Thêm nữa, Công Giáo cho rằng tự bản chất, đức tin bao gồm tri thức, ý chí, và việc làm. Như vậy đức tin là toàn bộ tiến trình đời sống của cá nhân, biểu hiện kể từ lúc rửa tội cho đến khi qua đời.

        Điểm khác biệt chính giữa Công Giáo và Tin Lành là khái niệm “trở nên công chính”. Trở nên công chính nghĩa là gì? Thần học Công Giáo nhận diện đúng theo ý đã được dùng trong Tân Ước, nó có nghĩa là thay đổi từ tình trạng tội lỗi qua tình trạng sạch tội. Muốn vậy kẻ tội lỗi phải có lòng ăn năn thống hối. Như vậy để được nên công chính ta phải có đức tin của lòng ăn năn thống hối, rồi mới lãnh được ơn cứu độ (Lc 24:47; Cv 2:38; 3:19; 17:30; Rm 2:4; 1 Cr 7:9-10). Công Giáo đã đặt đức tin vào đúng thực trạng của nó là sự thay đổi con người. Sự thay đổi này phải có trong thái độ sống. Vì vậy từ thế kỷ V, Giáo Hội đã minh xác đức tin vừa là ơn Thiên Chúa vừa là tác động của con người. Những gì chúng ta tin sẽ uốn nắn nếp suy nghĩ, hành động, và nếp sống của chúng ta cho hợp với đức tin của mình. Thánh Giacôbê nói, các anh tin Thiên Chúa, có gì lạ, ma quỉ cũng tin như thế (Gc 2:19). Cho nên chỉ tin không chưa đủ. Giáo lý này Đức Giêsu đã dạy khi thấy có ông Pharisêu ca tụng đức tin và công đức của mình trong khi ông thu thuế đấm ngực thống hối cầu nguyện. Rốt cuộc ông thu thuế được nên công chính còn ông Pharisêu tự mãn thì không (Lc 18:9-14). Đức Giêsu vạch rõ, khi chúng ta đang ở trong tội lỗi, không có bất cứ gì khiến chúng ta trở nên công chính dù là đức tin hay những việc làm tốt. Ơn tha thứ của Thiên Chúa không phải là phần thưởng hay món hàng trao đổi. Nhận được ơn trở nên công chính hoàn toàn do ơn của Thiên Chúa ban cho người có lòng thống hối ăn năn. Trong trường hợp vừa nói, ông Pharisêu có đức tin vững mạnh nhưng không phải là đức tin của lòng thống hối ăn năn, nên ông đã thất bại. Cũng vậy khi phạm tội, dù ta có tin Thiên Chúa vững mạnh cỡ nào, tội vẫn chẳng được tha, cho đến khi ta đi xưng tội, tức có đức tin với lòng thống hối ăn năn, bấy giờ tội mới được tha.

        Thần học phân tích rõ hơn, con người hiện hữu trong ba thể không tách rời là: thần khí, linh hồn, và thể xác. Chính Thánh Phaolô cũng đã thấy như vậy (1Tx 5:23). Theo Peter Kreeft, mỗi thể có một dạng đức tin riêng. Thể xác thuộc thế giới vật chất, nên đức tin của thể xác biểu lộ qua những việc làm liên hệ với tha nhân, điều mà Thánh Giacôbê đã nói, “Đức tin không có việc làm là đức tin chết… nhờ có việc làm đức tin mới hoàn tất” (Gc 2:17, 22). Chính Thánh Phaolô cũng đã làm sáng tỏ điều này qua lá thư gửi tín hữu Do Thái, chương 11. Trong thư, Thánh Phaolô mô tả đức tin của dân Do Thái qua những gì họ làm cho cộng đồng. Đức tin của thể linh hồn là trí khôn, lòng hy vọng, và lòng trông cậy. Cuối cùng đức tin trong thể thần khí là sự qui thuận Thiên Chúa trong ý chí tự do.

        Trong thánh kinh có rất nhiều dẫn chứng về sự phối hợp giữa đức tin của 3 thể nêu trên. Tôi xin đưa ra một vài dẫn chứng tiêu biểu. “Ai đi trong lẽ phải, Ta sẽ cho biết ơn cứu độ của Chúa” (TV 50: 23). Đức Giêsu phán cùng các môn đệ, “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14:5). "Không phải tất cả những ai nói ‘Lạy Chúa, Lạy Chúa’, là được vào nước trời, nhưng chỉ có người thực hiện ý Cha Thầy ở trên trời, kẻ ấy mới được vào nước trời” (Mt 7:21-29). Tông Đồ Gioan vạch rõ, “Chỉ có điều này mới chứng tỏ chúng ta biết Chúa: đó là biết tuân giữ giới răn của Chúa. Còn ai nói mình đã biết Chúa mà không giữ giới răn Chúa, đó là kẻ nói láo, trong nó không có sự thật” (1Ga 2:3-4). Trong sách Khải Huyền Thánh Gioan thấy hình ảnh:“Tôi thấy những người chết đứng trước ngai. Sách đã mở sẵn… đó là Sách Trường Sinh. Các người chết được xét xử tùy theo việc họ làm đã được ghi trong sách” (KH 20:12). Chính Thánh Phaolô cũng nhận ra, “Anh em thân mến… hãy biết kính sợ mà gắng sức lo việc cứu rỗi, vì chính Thiên Chúa, do lòng yêu thương của Người, đã tác động ý chí và việc làm của anh em” (Pl 2:12-13). Đây chính là giáo lý Công Giáo từ cổ thời đến nay không dứt đoạn.

        Tóm lại đức tin không phải là một ý niệm suông, hoặc một niềm tin thuần lý trí. Vì sự hiểu biết của con người rất giới hạn, vô số những điều huyền nhiệm Thiên Chúa tạo dựng nằm bên ngoài khả năng nhận thức của con người. Do đó Thiên Chúa ban cho con người đức tin để vượt qua giới hạn của lý trí mà “được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời” (Mt 13:11). Tín Hữu Công Giáo bắt đầu nhận ơn đức tin qua bí tích rửa tội, rồi qua tất cả những bí tích lãnh nhận sau đó trong đời mình. Tuy nhiên người lãnh nhận chỉ thật sự có đức tin khi trí óc chấp nhận “ơn đức tin” do ơn Thiên Chúa ban cho. Khi đã có đức tin, Kitô hữu chúng ta phải biểu lộ đức tin qua hành động. Bởi vì đức tin không những là lòng tin tưởng, lòng hy vọng, mà còn là sự tuyên xưng tin mừng qua những hành vi đạo đức (Rom 10:8-13). Nếu không giữ được như thế đức tin sẽ từ từ chết, “Vì ai có, sẽ được cho thêm mà nên dư dật; còn kẻ không có, thì điều có cũng bị lấy mất” (Mt 25:29).

        Đỗ Trân Duy