Thứ Năm, 20 tháng 4, 2006
Thánh Bartôlômêô Tông đồ
Thứ Tư, 25 tháng 5, 2005
ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO
“Không hiểu biết mà vẫn tin”, đó là lời mỉa mai thường có từ những người ngoài Công Giáo phê bình tín đồ Công Giáo. Họ cho rằng “người Công Giáo” u mê, mù quáng, bịt tai che mắt trí thức, chỉ biết tin tưởng một cách thụ động. Họ lấy câu nói của Đức Giêsu “Phúc cho ai không biết mà tin” để xây dựng sự phản biện của họ. Trên thực tế, nếu sự tin tưởng đến sau sự hiểu biết của trí óc, thì điều mình tin đã được trí óc thấy và hiểu rõ ràng, nó trở thành hiện thực, sự tin tưởng còn đặt ra làm gì. Thêm nữa, lối tin tưởng một cách thụ động vẫn là điều kiện sống của con người. Trẻ con tin vào cha mẹ; học trò tin vào thầy giáo; quần chúng tin vào lãnh tụ… Ngay cả những người mỉa mai nêu trên cũng đã và đang sống như vậy. Nói chung, tin tưởng là sự qui phục của tri thức hướng về một đối tượng nào đó. Tuy nhiên niềm tin dựa vào tri thức thường nghiệm này không phải là niềm tin siêu nghiệm (transcendentality) mà Công Giáo nói tới.
Có sự khác biệt một trời một vực giữa một vị lãnh tụ nói với kẻ đi theo của hắn, “Phúc cho ai không biết mà tin”, và khi Đấng Tạo Hóa nói câu đó với kẻ thụ tạo. Thiên Chúa không nói tới những đối tượng tri thức, nhưng nói tới khả năng tri thức giới hạn của con người. Đối với Công Giáo tin vào Thiên Chúa được gọi là “đức” tin, vì sự cảm nhận này có tính siêu nghiệm (hiểu biết không do kinh nghiệm trí thức) và là một đức hạnh (virtue). Ba đức hạnh phải có để gia nhập Công Giáo là đức tin, đức cậy, và đức mến. “Đức tin” đứng đầu vì là căn gốc của tất cả. Nếu không tin có Thiên Chúa, làm sao chúng ta có thể đến với Người (Dt 11:6). Để nhấn mạnh điều này, Giáo hoàng Phanxicô đã chọn chủ đề “Ánh Sáng Đức Tin” (Lumen Fidei) cho thông điệp đầu tiên trong triều đại của ngài. Công Giáo gọi giáo dân là “tín đồ” hay “tín hữu” cũng là cách minh xác họ là những “người có đức tin”. Trong số ba đức hạnh nêu trên, đức cậy và đức mến ý nghĩa đã rõ ràng, riêng đức tin thường dẫn đến những ngộ nhận và những hệ tư tưởng khác nhau dễ gây ra hoang mang. Vì vậy Kitô hữu chúng ta nên hiểu rõ bản chất của đức tin.
Đức tin là gì?
Công Đồng Thứ Nhất (Nicea, 325) định nghĩa: “Đức tin là sự linh cảm, qua sự trợ giúp của Thiên Chúa, để chấp nhận chân lý siêu việt do Thiên Chúa tiết lộ. Chúng ta tiếp nhận lời Chúa không phải vì chúng ta hiểu được nội dung chân lý qua lý luận tự nhiên, nhưng do bởi chấp nhận thẩm quyền của Thiên Chúa, Đấng hằng hữu, Đấng chính là chân lý, Đấng tự biểu lộ, Đấng không lừa dối và không bị lừa dối.”
Thần học đi sâu hơn vào bản tính của đức tin. Để giản dị hoá những ý niệm trừu tượng của thần học, tôi xin đưa ra một sự kiện cụ thể, đó là tín điều “Một Thiên Chúa có Ba Ngôi”. Linh ảnh này không ai thấy, không ai hiểu, nhưng Kitô hữu vẫn tin. Tại sao? Tại vì Đức Giêsu dạy như vậy. Theo thánh Augustine, đức tin là chấp nhận lời nói, mình nghe được từ đấng có thẩm quyền. Thánh Phaolô nói, “Đức tin đến từ sự nghe” (Rm 10:17). Người duy nhất có thẩm quyền nói ở đây là Thiên Chúa. Những gì Thiên Chúa tiết lộ được gọi là mạc khải. Qua mạc khải những sự thật siêu việt của Thiên Chúa được truyền cho con người. Con người, dù thông minh đến đâu cũng không thể tự mình tìm biết được. Đây là chứng từ của Đức Giêsu: “Không ai biết Con trừ Cha, và không ai biết Cha trừ Con và kẻ được Con mạc khải cho” (Mt 11:27). Như vậy đức tin là mối liên kết riêng tư của cá nhân với Thiên Chúa.
Chúng ta hãy phân biệt giữa “sự tin tưởng” của đời thường và “đức tin”. Chẳng hạn chúng ta tin có dòng điện lưu chuyển trong vũ trụ. Dù không thấy dòng điện nhưng sự hiện hữu của nó đã được chứng minh, vì nó làm cháy sáng bóng đèn. Như vậy tin tưởng là thành quả của tri thức trải qua những biện luận, dựa vào những chứng cớ có thể kiểm chứng. Trái lại đức tin là tin vào điều mà mình chưa hề biết tới vì nó vượt khỏi tầm hiểu biết của con người. Trong đức tin không có lý luận, vì có dùng lý luận cũng không thể tìm ra. Đức tin hoàn toàn phụ thuộc vào ơn soi sáng từ Thiên Chúa đánh động và lôi cuốn tâm hồn của ta. Trí óc chỉ dùng để tiếp nhận chứ không dùng để hiểu. Đức Giáo Hoàng Gioan Phalô II nói, “Không ai hiểu được Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa là Đấng có thể hiểu được thì vị đó không phải là Thiên Chúa.” Cho dù có người nào đó tự xưng là đã dùng trí óc để hiểu chân lý thì nhận thức đó không phải là đức tin. Nó chỉ là sản phẩm tư tưởng của người đó. Đức tin không đến từ suy luận trí óc, nhưng là một ơn phước.
Cha Karl Rahner, nhà thần học vĩ đại của Công Giáo, nói rõ hơn về ơn phước đức tin. Theo Rahner, khi Thiên Chúa nói với con người, Chúa không dạy bảo một kiến thức hay loan báo một tài liệu thông tin. Khi đó Chúa tỏ lộ tình yêu với nhân loại, mạc khải về mục đích tối hậu của sự sống, và niềm hy vọng tuyệt hảo của ơn cứu độ, cùng lúc Chúa ban ơn đức tin cho người nghe. Điểm khởi đầu của đức tin là cái gì đó thúc đẩy lý trí chấp nhận điều mình nghe, một nhận thức siêu nhiên nảy sinh trong ý thức (siêu nghiệm). Như vậy đức tin là một ơn phước về sự mạc khải.
Đặc tính của đức tin
Công Đồng Trent (1545 -1563) dạy rằng đức tin không phải là trạng thái tĩnh của ý thức, mà là một động năng. Bởi vì đức tin không phải là một ý thức suông, đứng độc lập, nhưng biểu hiện trong việc làm. Đúng tên của đức tin là “hành vi đức tin”. Thần học dẫn giải thêm, nếu đức tin là sự qui thuận của tri thức, nó phải có một đối tượng nào đó nằm bên ngoài con người. Nhưng ở đây, người tin không nhắm vào một đối tượng bên ngoài, mà là mối cảm xúc dấy lên từ nội tâm. Rồi sức mạnh cảm xúc ấy tỏa ra bên ngoài tới khắp mọi chiều hướng. Hiểu một cách bình thường, những gì chúng ta thường làm như cầu nguyện, dự thánh lễ, giữ phép đạo… đều là những “hành vi đức tin”. Theo Thánh Thomas và Thánh Bonaventure, ngay khởi đầu khi cá nhân tự do chấp nhận Lời Chúa, chính sự quy phục ấy đã là một hành vi đức tin.
Karl Rahner khảng định hành vi đức tin có ba yếu tố: siêu việt, có ý thức, và có ý chí tự do. Gọi là siêu việt vì đức tin là ơn của Thiên Chúa ban cho. Gọi là có ý thức vì đức tin được tiếp thu qua trí óc con người. Gọi là ý chí tự do vì cá nhân tự ý tin chứ không bị ép buộc phải tin. Cùng một nhận định, Thánh Thomas cho rằng đức tin là thái độ của trí óc chấp nhận chân lý thánh (divine truth); thái độ này được tác động bới ý chí; ý chí này được tác động bởi ơn Chúa. Qua nhận định của Karl Rahner và của Thánh Thomas, chúng ta thấy cả hai vị đều không nêu ra cái gì gọi là chứng cớ thực nghiệm hay biện luận trí óc, mà đưa ra ba tác động nối kết nhau: 1) Thiên Chúa ban ơn linh ứng. 2) Ơn này tác động ý chí tự do tiếp nhận. 3) Ý chí tác động tri thức chấp nhận. Trong diễn trình này Thiên Chúa không phá vỡ luật tự nhiên, bởi vì Thiên Chúa không ép buộc ý chí và tri thức phải chấp nhận những gì Chúa nói (Rm 4:16; GLCG 160). Nhận định của Rahner và của Thánh Thomas, vô hình trung, đã loại bỏ những niềm tin như mê tín dị đoan và sự tin tưởng mù quáng. Chúng là những niềm tin trống rỗng và tuyệt vọng. “Niềm tin mà không có chân lý thì không có khả năng cứu độ và không bảo đảm cho bước đi của chúng ta.” (Giáo Hoàng Phanxicô, thông điệp Lumen Fidel ‘Ánh Sáng Đức Tin’, chương 2, đoạn 24). Đồng thời chúng ta cũng nhận ra mê tín dị đoan là kết quả của kiến thức trí óc lạc đường trong bầu sương mù của dục vọng.
Công Giáo tin những gì
Trước hết, Công Giáo tin những mạc khải về chân lý do Thiên Chúa tiết lộ, và những gì được rao giảng bởi Ngôi Lời nhập thế. Nguồn mạc khải này đã được ghi trong bộ “Thánh Kinh” và trong 4 sách Phúc Âm. Đó là truyền thống đúng nhất về đức tin của Công Giáo. Để tóm tắt những tín lý căn bản, vào thế kỷ II, các thánh Tông Đồ đã soạn ra bản văn gọi là “kinh Tin Kính” (Apostle’s Creed).
Kế đó, tín hữu Công Giáo cũng tin vào những sự thật, do Giáo Hội rút ra từ mạc khải. Giáo Hội cô đọng chúng trong những mệnh đề gọi là tín điều (dogma), chẳng hạn tín điều “Đức Mẹ hồn xác lên trời”. Tín điều không phải là những điều do Giáo Hội tự ý đặt ra, nhưng do lãnh nhận từ Lời Chúa. Vì vậy mỗi tín điều đều hội đủ hai yếu tố: 1) Nói lên một sự thật. 2) Là thành phần của Lời Chúa. Ai không chấp nhận những tín điều do Giáo Hội loan truyền thì người đó không phải là tín đồ Công Giáo.
Tác động của đức tin
Thánh Anselmo tóm lược tác động của đức tin trong châm ngôn “Đức tin đi tìm sự hiểu biết” (Fides quaerens intellectum). Đức tin thúc đẩy chúng ta hành động theo Thánh Ý Chúa nhờ đó mà cảm nghiệm sâu xa trong sự hiểu biết. Thánh Augustine nói, “Tôi tin để hiểu và tôi hiểu để tin”. Điều đó có nghĩa là đức tin phải có trước rồi sự hiểu biết về những gì mình tin sẽ tới sau. Hiển nhiên con người không thể đòi hỏi phải hiểu biết Thiên Chúa trước, rồi mới tin. Tuy nhiên chúng ta cũng không thể nói: “Tôi chỉ cần tin, tôi không cần hiểu biết”. Chúng ta cần cả hai. Tuy đức tin vượt khỏi lý trí nhưng không nghịch lại với lý trí, bởi vì cả đức tin lẫn lý trí đều là ơn phúc do Thiên Chúa ban cho. Trong thông điệp Fides et Ratio (Đức tin và Lý trí), đức Gioan Phaolô II viết, “Đức tin và Lý trí như đôi cánh giúp con người vươn cao trong chiêm nghiệm chân lý. Chính Thiên Chúa đã đặt trong tâm con người ước vọng tìm kiếm chân lý, để rồi cuối cùng con người nhận biết Thiên Chúa, ngõ hầu thấu đạt sự thật về mình một cách đầy đủ”.
Khi Đức Giêsu ban phép lạ, Người luôn luôn đòi hỏi người lãnh nhận phải có đức tin. Đức Giêsu đã không thể ban phép lạ ở Nazaret vì dân nơi đó thiếu đức tin (Mc 6:5). Người kêu gọi môn đồ, “Hãy tin vào tin mừng” (Mc 1:15). Như vậy đức tin tác động vào tâm hồn con người khiến con người biết hy vọng vào những điều từ Thiên Chúa mà bình thường không thể nào xảy ra (Mc 1:22). Từ những sự kiện này đã dẫn tới một quan điểm thần học: “đức tin công chính hóa con người”, nghĩa là con người được cứu rỗi nhờ có đức tin. Cũng từ nhận định sơ khởi ấy, Thánh Phaolô đưa ra châm ngôn: “chỉ một mình đức tin” (sola fide. Rm 10:8-13; Gl 3:2). Tin Lành đã lấy chính câu nói này để làm nền tảng xây dựng môn thần học cứu rỗi. Hệ tư tưởng ấy đã khiến Tin Lành tách biệt với Công Giáo vì đã nhìn “đức tin” theo hướng khác. Đây là điểm rất quan trọng của tác động đức tin mà Kitô hữu chúng ta cần biết rõ.
Sự khác biệt về đức tin giữa Tin Lành và Công Giáo không phải là chủ đề của bài này nên tôi chỉ trình bày một cách giản lược. Về phía Tin Lành, Luther bám sát mạch văn “chỉ có đức tin” suy luận rằng dù con người có làm lành cách nào cũng không xứng đáng vào thiên đàng. Con người được cứu độ chỉ nhờ có đức tin. Đức tin tự đứng một mình là luật duy nhất và là chìa khóa của ơn cứu độ. Như vậy Tin Lành đã thấy đức tin là một liên kết thuần tâm linh trong tâm hồn của mỗi cá nhân. Đàng khác, Công Giáo cho rằng đức tin rất cần thiết, nhưng không là nguyên lý duy nhất của ơn cứu rỗi. Đức tin chỉ là một đức tính trong 3 đức tính cần thiết: tin - cậy - mến. Tin Lành đã dừng lại ở đức tin, nơi chỉ là bước khởi đầu. Vả lại lời dạy của Thánh Phaolô không thể tách rời độc lập khỏi toàn bộ Phúc Âm còn gồm lời dạy của các vị tông đồ khác. Thêm nữa, Công Giáo cho rằng tự bản chất, đức tin bao gồm tri thức, ý chí, và việc làm. Như vậy đức tin là toàn bộ tiến trình đời sống của cá nhân, biểu hiện kể từ lúc rửa tội cho đến khi qua đời.
Điểm khác biệt chính giữa Công Giáo và Tin Lành là khái niệm “trở nên công chính”. Trở nên công chính nghĩa là gì? Thần học Công Giáo nhận diện đúng theo ý đã được dùng trong Tân Ước, nó có nghĩa là thay đổi từ tình trạng tội lỗi qua tình trạng sạch tội. Muốn vậy kẻ tội lỗi phải có lòng ăn năn thống hối. Như vậy để được nên công chính ta phải có đức tin của lòng ăn năn thống hối, rồi mới lãnh được ơn cứu độ (Lc 24:47; Cv 2:38; 3:19; 17:30; Rm 2:4; 1 Cr 7:9-10). Công Giáo đã đặt đức tin vào đúng thực trạng của nó là sự thay đổi con người. Sự thay đổi này phải có trong thái độ sống. Vì vậy từ thế kỷ V, Giáo Hội đã minh xác đức tin vừa là ơn Thiên Chúa vừa là tác động của con người. Những gì chúng ta tin sẽ uốn nắn nếp suy nghĩ, hành động, và nếp sống của chúng ta cho hợp với đức tin của mình. Thánh Giacôbê nói, các anh tin Thiên Chúa, có gì lạ, ma quỉ cũng tin như thế (Gc 2:19). Cho nên chỉ tin không chưa đủ. Giáo lý này Đức Giêsu đã dạy khi thấy có ông Pharisêu ca tụng đức tin và công đức của mình trong khi ông thu thuế đấm ngực thống hối cầu nguyện. Rốt cuộc ông thu thuế được nên công chính còn ông Pharisêu tự mãn thì không (Lc 18:9-14). Đức Giêsu vạch rõ, khi chúng ta đang ở trong tội lỗi, không có bất cứ gì khiến chúng ta trở nên công chính dù là đức tin hay những việc làm tốt. Ơn tha thứ của Thiên Chúa không phải là phần thưởng hay món hàng trao đổi. Nhận được ơn trở nên công chính hoàn toàn do ơn của Thiên Chúa ban cho người có lòng thống hối ăn năn. Trong trường hợp vừa nói, ông Pharisêu có đức tin vững mạnh nhưng không phải là đức tin của lòng thống hối ăn năn, nên ông đã thất bại. Cũng vậy khi phạm tội, dù ta có tin Thiên Chúa vững mạnh cỡ nào, tội vẫn chẳng được tha, cho đến khi ta đi xưng tội, tức có đức tin với lòng thống hối ăn năn, bấy giờ tội mới được tha.
Thần học phân tích rõ hơn, con người hiện hữu trong ba thể không tách rời là: thần khí, linh hồn, và thể xác. Chính Thánh Phaolô cũng đã thấy như vậy (1Tx 5:23). Theo Peter Kreeft, mỗi thể có một dạng đức tin riêng. Thể xác thuộc thế giới vật chất, nên đức tin của thể xác biểu lộ qua những việc làm liên hệ với tha nhân, điều mà Thánh Giacôbê đã nói, “Đức tin không có việc làm là đức tin chết… nhờ có việc làm đức tin mới hoàn tất” (Gc 2:17, 22). Chính Thánh Phaolô cũng đã làm sáng tỏ điều này qua lá thư gửi tín hữu Do Thái, chương 11. Trong thư, Thánh Phaolô mô tả đức tin của dân Do Thái qua những gì họ làm cho cộng đồng. Đức tin của thể linh hồn là trí khôn, lòng hy vọng, và lòng trông cậy. Cuối cùng đức tin trong thể thần khí là sự qui thuận Thiên Chúa trong ý chí tự do.
Trong thánh kinh có rất nhiều dẫn chứng về sự phối hợp giữa đức tin của 3 thể nêu trên. Tôi xin đưa ra một vài dẫn chứng tiêu biểu. “Ai đi trong lẽ phải, Ta sẽ cho biết ơn cứu độ của Chúa” (TV 50: 23). Đức Giêsu phán cùng các môn đệ, “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14:5). "Không phải tất cả những ai nói ‘Lạy Chúa, Lạy Chúa’, là được vào nước trời, nhưng chỉ có người thực hiện ý Cha Thầy ở trên trời, kẻ ấy mới được vào nước trời” (Mt 7:21-29). Tông Đồ Gioan vạch rõ, “Chỉ có điều này mới chứng tỏ chúng ta biết Chúa: đó là biết tuân giữ giới răn của Chúa. Còn ai nói mình đã biết Chúa mà không giữ giới răn Chúa, đó là kẻ nói láo, trong nó không có sự thật” (1Ga 2:3-4). Trong sách Khải Huyền Thánh Gioan thấy hình ảnh:“Tôi thấy những người chết đứng trước ngai. Sách đã mở sẵn… đó là Sách Trường Sinh. Các người chết được xét xử tùy theo việc họ làm đã được ghi trong sách” (KH 20:12). Chính Thánh Phaolô cũng nhận ra, “Anh em thân mến… hãy biết kính sợ mà gắng sức lo việc cứu rỗi, vì chính Thiên Chúa, do lòng yêu thương của Người, đã tác động ý chí và việc làm của anh em” (Pl 2:12-13). Đây chính là giáo lý Công Giáo từ cổ thời đến nay không dứt đoạn.
Tóm lại đức tin không phải là một ý niệm suông, hoặc một niềm tin thuần lý trí. Vì sự hiểu biết của con người rất giới hạn, vô số những điều huyền nhiệm Thiên Chúa tạo dựng nằm bên ngoài khả năng nhận thức của con người. Do đó Thiên Chúa ban cho con người đức tin để vượt qua giới hạn của lý trí mà “được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời” (Mt 13:11). Tín Hữu Công Giáo bắt đầu nhận ơn đức tin qua bí tích rửa tội, rồi qua tất cả những bí tích lãnh nhận sau đó trong đời mình. Tuy nhiên người lãnh nhận chỉ thật sự có đức tin khi trí óc chấp nhận “ơn đức tin” do ơn Thiên Chúa ban cho. Khi đã có đức tin, Kitô hữu chúng ta phải biểu lộ đức tin qua hành động. Bởi vì đức tin không những là lòng tin tưởng, lòng hy vọng, mà còn là sự tuyên xưng tin mừng qua những hành vi đạo đức (Rom 10:8-13). Nếu không giữ được như thế đức tin sẽ từ từ chết, “Vì ai có, sẽ được cho thêm mà nên dư dật; còn kẻ không có, thì điều có cũng bị lấy mất” (Mt 25:29).
Đỗ Trân Duy
Thứ Tư, 31 tháng 3, 2004
TÍN THÁC VÀO THIÊN CHÚA
Con người đau khổ, đó là điều dĩ nhiên. Nhưng đau khổ không phải là một cái gì thừa thãi và vô ích, chính Chúa Giêsu cũng đã từng chịu đau khổ, nhưng Ngài đã mặc cho những đau khổ ấy một giá trị tuyệt vời và đã dùng những đau khổ ấy để cứu chuộc chúng ta. Rồi Ngài lại phán: Phúc cho những ai than khóc vì Nước Trời là của họ.
Vậy thì chị là người đang đau khổ, Nước Trời là của chị đó. Nếu không có Nước Trời, thì tôi sẽ lên tiếng kêu gọi mọi người đau khổ hãy đoàn kết, chống lại số mệnh, chống lại Thiên Chúa. Nhưng Nước Trời còn đó, và Thiên Chúa đang chờ đón chúng ta. Hãy để Ngài tẩy rửa và thanh luyện chúng ta nên xứng đáng với hạnh phúc tuyệt vời ấy.
Đừng hỏi tại sao Thiên Chúa lại dựng nên bông hồng có những gai nhọn, Ngài có chương trình của Ngài. Hãy để cho Ngài uốn nắn và hành động. Thái độ khôn ngoan nhất là biết nép mình vào bàn tay Chúa. Nếu cây cối chống trả với ngọn gió, nó sẽ bị gẫy đổ, nếu chúng ta chống trả với Thiên Chúa, đời chúng ta sẽ chồng chất thêm nhiều khổ đau, dù cuộc đời chúng ta có sóng gió, thì cũng hãy tin tưởng vào Thiên Chúa vì trước mặt Thiên Chúa, chúng ta đáng giá hơn chim trời và hơn hoa cỏ đồng nội rất nhiều.
Tin tưởng phó thác vào Chúa quan phòng không có nghĩa là ỷ lại, để cho Chúa lo mọi sự, nhưng trái lại, phải có sự cộng tác của chúng ta. Đây là bằng chứng: ngày từ đầu Thiên Chúa đã trao trái đất cho con người coi sóc, Đức Giêsu đã làm nghề thợ mộc tại Nazareth và thánh Phaolô cũng chủ trương ai không làm việc thì không có quyền ăn. Vậy, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cứ làm việc bình thường, đừng bồn chồn lo lắng. Hãy quên đi quá khứ, hăng say làm việc trong hiện tại và đặt tương lai vào trong bàn tay Chúa quan phòng.
Hơn bao giờ hết, con người thời nay đang sống trong một sự khắc khoải lo sợ. Đúng vậy, người ta lo sợ trước bệnh tật, tuổi già và chết chóc. Người ta lo sợ trước chiến tranh và vũ khí nguyên tử. Người ta lo sợ trước những điều rủi ro làm mất tiền, mất tình và mất hạnh phúc. Cuộc sống như trở nên bấp bênh vô định. Khắp nơi đều có những đe doạ, những hiểm nguy. Người ta dùng tới mọi phương tiện miễn sao tìm thấy được một sự bảo đảm an toàn. Từ những phương tiện chính đáng như các công ty bảo hiểm đến những phương tiện kỳ cục và vô lý chẳng hạn như bói toán và kiêng cữ.
Ta thấy có bốn lần Chúa Giêsu dạy chúng ta đừng quá lo lắng đến nỗi mất tin cậy vào Thiên Chúa. Khi nói như thế, Ngài muốn chúng ta đừng tìm bảo đảm nơi của cải nay còn mai mất, mà phải tìm cái cốt yếu cho cuộc đời trước đã, rồi mọi sự khác sẽ được thêm cho. Lo lắng quá cũng chẳng giải quyết được gì: “Dù có lo lắng đi nữa, hỏi có ai trong các con kéo dài đời mình thêm được một vài gang tấc không?”. Tín nhiệm hoàn toàn vào Thiên Chúa không có nghĩa là sống trong thụ động, mà là cộng tác với công việc của Thiên Chúa tùy ơn gọi của mỗi người: tự giúp mình thì trời sẽ giúp cho.
Thiên Chúa biết rõ chúng ta không phải là những con chim hay bông hoa ngoài đồng, mà là những con người phải làm việc để nuôi thân và góp phần xây dựng gia đình và xã hội. Chúa dạy chúng ta “trước hết hãy tìm” nghĩa là hẫy đặt đúng chỗ công việc: việc nào trước, việc nào sau. “Trước hết hãy lo tìm Nước Chúa và sự công chính của Ngài”, lời này đặt nền tảng cho người Kitô hữu trong việc chọn lựa: Thiên Chúa phải chiếm chỗ ưu tiên trong con người và công việc của chúng ta, rồi đến việc cứu rỗi bản thân và đưa người khác về với Chúa; đảo lộn trật tự này tức là đi ngược thánh ý và chương trình của Thiên Chúa.
Lo lắng chủ yếu là không tín thác vào Chúa. Sự không tín thác như thế có thể hiểu được nơi người ngoại giáo với tin tưởng vào một thần linh ganh tị, thất thường, không thể đoán trước được, nhưng không thể hiểu được nơi một người đã học gọi Thiên Chúa là Cha. Khi chúng ta đặt chính mình vào đôi tay của Thiên Chúa, chúng ta mở lòng mình để hưởng nhờ ơn Chúa bảo vệ chúng ta. Và chúng ta có thể sống đời sống của mình và cử hành giây phút hiện tại.
Tin vào Chúa quan phòng không phải là trao hết mọi việc vào tay Chúa rồi sống ỷ lại với tư tưởng:”Trời sinh voi, trời sinh cỏ” rồi “ngồi há miệng chờ sung rụng”. Tin Chúa quan phòng không được mang tính cách thụ động, không phải thái độ vô vi, yếm thế, buông trôi. Đức tin chân chính phải thể hiện bằng việc làm, càng tin, càng phải đem hết sức mình cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa: biết xây dựng trần thế tốt đẹp như khi Ngài dựng nên mọi sự tốt đẹp.
Nếu Chúa Giêsu nói:”Các con không phải làm gì cả, cứ tin vào Chúa quan phòng” thì tại sao trong toàn bộ Thánh Kinh, ngay từ đầu, Thiên Chúa đã nói điều ngược lại? Chương đầu tiên của sách Sáng thế đã cho chúng ta lệnh truyền:”Hãy thống trị đất và bắt nó pục tùng”.
Thật ra, Chúa Giêsu khẳng định:”Vì thợ đáng được nuôi ăn”(Mt 10,10). Điều này được hiểu ngầm rằng người nào không làm việc, người đó không có quyền ăn như thánh Phaolô kết luận (2Tx 3,10). Và cũng phải đọc lại lời lên án nghiêm khắc của người đã không làm sinh lợi nén bạc mà người đó đã lãnh nhận (Mt 25,14-30). “Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài”.
Chúa Giêsu không đòi hỏi phải từ bỏ những của cải thiết yếu, nhưng đừng quá cho mạng sống mình: lấy gì mà ăn (6: 25-30), cho thân thể: lấy gì mà mặc (6: 31-33) và về ngày mai (6: 34). Những môn đệ Ngài sẽ có kinh nghiệm về lời khuyên này. Ở Tiệc Ly, Chúa Giêsu sẽ nhắc lại cho họ điều đó: “Khi Thầy sai anh em ra đi, không túi tiền, không bao bị, không giày dép, anh em có thiếu thốn gì không?”. Các ông đáp: “Thưa không” (Lc 22: 35).
Hẳng ta còn nhớ cô Mác-ta tất bật lo toan nhiều việc để đón tiếp Ngài cho thật chu đáo trong khi cô em Ma-ri-a ngồi dưới chân Chúa lắng nghe Lời Ngài. Chúa Giêsu đánh giá rằng cô Ma-ri-a chọn phần tốt nhất. Chúa Giêsu thiết lập thứ bậc về hai cách thế bận lòng. Vào thời thiên sai, nỗi bận lòng ưu tiên phải là của cải tinh thần.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy tín thác vào Chúa. Hãy để cho Chúa lo cho bạn ngày mai còn ngày hôm nay hãy sống hết mình với giây phút hiện tại. Hiện tại có khó khăn nhưng “sau đêm dài là ánh bình minh”. Hiện tại là bóng đêm nhưng bình minh sẽ ló rạng để phá tan đêm tối. Chúa bảo rằng: “chim trời chúng con gieo vãi mà vẫn có ăn, hoa cỏ đồng nội chúng không làm lụng thế mà vẫn xinh tươi rực rỡ”. Là con cái của Chúa, Chúa sẽ không bao giờ để chúng ta phải thua thiệt. Chúa sẽ chăm sóc cuộc đời chúng ta như người cha người mẹ lo cho con cái. Chúa sẽ luôn làm những điều tốt đẹp nhất cho chúng ta.
2Cr 12,1-10; Mt 6,24-34.
Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2003
Thứ Tư, 9 tháng 5, 2001
Ý NGHĨA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ƠN THIÊN TRIỆU
Ý nghĩa nguyên thủy của Ơn Gọi (Vocation) là một lời mời gọi làm một phận sự nào đó trong cuộc sống. Ý nghĩa này vẫn còn phù hợp với những ai được gọi sống đời tu trì hay dấn thân vào một tác vụ chuyên biệt trong xã hội. Ðối với ơn gọi sống đời tu trì, người ta đã phân biệt thành ơn gọi làm tu sĩ (nam hay nữ) và ơn gọi làm linh mục, gọi chung là Ơn Thiên Triệu (Divine Call). Ðôi khi một người có thể nhận cả hai, như những linh mục dòng. Ơn Thiên Triệu làm linh mục hướng về một chức năng trong giáo hội, trong khi Ơn Thiên Triệu làm tu sĩ thì hướng về một đời sống mang bổn phận phải tiến tới trọn lành. Giá trị của sự phân biệt này là giúp tìm ra những phẩm chất phù hợp với khuynh hướng tu trì của các thỉnh viên.
Những quan niệm về bản chất của Ơn Thiên Triệu
Mặc dù đã có sự xác định về bản chất của ơn Thiên Triệu qua tông thư “Sedes Sapientiae”(tạm dịch: Ngai Tòa của sự Khôn Ngoan) của ÐGH Piô XII, 1956, nhưng vẫn còn những quan niệm khác nhau cần được trình bày.
1. Quan niệm “Ơn Gọi Ngoại Tại” (External Vocation) đã cho rằng ơn gọi có hai thành phần: cụ thể (material) và hình thái (formal). Thành phần cụ thể là Ơn Chúa Gọi biểu hiệu qua những phẩm chất có sẵn trong các thỉnh sinh như tinh thần, thể lý, luân lý và nhất là có ý ngay lành. Thành phần hình thái là ơn gọi lãnh nhận một tác vụ lãnh đạo hợp lệ trong Giáo hội. Vì vậy, chỉ có những người đã được ơn gọi làm linh mục hay tu sĩ mới có năng quyền trong Giáo hội. Thành phần cụ thể của ơn gọi đã không đưa đến một năng quyền thiêng liêng cho linh mục, tu sĩ, nhưng năng quyền đó hiện hữu qua tác động hợp lệ của hàng giáo phẩm.
2. Quan niệm “hấp lực” (Attraction) cho rằng người ta có thể được sở hữu một ơn gọi mà Chúa trực tiếp ban một cách riêng biệt và trong người đó luôn luôn có một hấp lực siêu hình hoặc một cảm giác xúc động, không thể ngờ vực, trong phần sâu thẳm nhất của tâm hồn.
3. Quan niệm “Ơn Gọi Nội Tại” (Internal Vocation) nhận định rằng ơn gọi là lời mời gọi của Chúa đến một người trong hình thức của một ơn đặc biệt khiến cho người ấy chấp nhận cuộc sống mà anh/chị ta được kêu mời để sống. Ơn đặc biệt này dường như nghiêng về thành phần cụ thể của ơn gọi hơn là thành phần hình thái, mặc dù thành phần hình thái vẫn cần để xác định sự chân thật của ơn gọi nội tại.
Trong ba quan niệm nói trên, quan niệm ơn gọi nội tại đã chính xác nhất. Trong Kinh Thánh, ơn gọi được nói đến cách đặc biệt, và xác định rằng mỗi trạng thái của cuộc sống đều là ơn của Chúa. (Mt.16:24; 1 Cor.7:25-35). Các Thánh Phụ trong giáo hội thời sơ khai cũng đồng ý, nếu không có ơn gọi nội tại, không ai nên theo đuổi đời sống tu trì, dù là linh mục hay tu sĩ. Các Ðức Giáo hoàng như ÐGH Piô XI và Piô XII đã đồng ý với quan niệm này.
Riêng ÐGH Piô XII đã dạy rằng Ơn Thiên Triệu có hai thành phần chính, một là thiêng liêng, hai là Giáo hội. Trong thành phần thiêng liêng, ơn Chúa gọi nhận lãnh đời sống LM hay TS. Nếu không có thành phần này, cả nền tảng của ơn gọi đều không có. Thành phần giáo hội đòi hỏi có sự tuyển chọn (mời gọi) của các đấng bản quyền hợp lệ trong giáo hội. Nhờ vậy ơn Thiên Triệu mới được chứng thật, thử thách, hướng dẫn, và chấp nhận bởi những vị có thẩm quyền. Quyết định của những vị này đặt căn bản trên sự hiện diện hay vắng mặt của một số dấu chỉ chắc chắn trong các thỉnh viên. (theo tông thư Sedes Sapientiae).
Những dấu chỉ của Ơn Thiên Triệu
Tuy không thể có sự xác định tuyệt đối về Ơn Thiên Triệu của một người, nhưng sự xác định luân lý có thể nhận diện được qua những dấu chỉ, để thẩm định về ơn Thiên Triệu của người đó. Những dấu chỉ đó có thể là:
1. Không có những trở ngại tự nhiên hay luật điều về Ơn Thiên Triệu của một người, chiếu theo giáo luật và hiến pháp của dòng tu.
2. Một số điều kiện hay thích nghi cần phải có, như hoàn cảnh gia đình, sức khoẻ, sự thăng bằng về tình cảm, quân bình về sự quí trọng những của cải thế gian, đạo đức, khả năng hòa đồng, trí thông minh, và luân lý. Luân lý ở đây ám chỉ không những đời sống độc thân do ơn gọi đòi hỏi, nhưng còn là sự chân thành, thẳng thắn và rộng lượng.
3. Phải có ý ngay lành hoặc động lực chính xác. Ðiều này vô cùng quan trọng trong tất cả những dấu chỉ nêu trên. Sự chấp nhận Ơn Thiên Triệu đòi hỏi một kiến thức về Ơn Gọi Thánh tùy theo khả năng và lứa tuổi, tự do hoàn toàn để chọn lựa, ý chí vững mạnh để theo đuổi những thiện ích. Phải có ước muốn chắc chắn để đạt được mục đích của Ơn Thiên Triệu, như phụng sự Chúa và anh em qua đời sống truyền giáo, qua phụng vụ Thánh Thể…
Nếu không có ý ngay lành, người ta chỉ có thể theo đuổi Ơn Thiên Triệu trong một thời gian giới hạn mà thôi. Ý ngay lành phải được thể hiện qua lối sống của thỉnh viên.
Những dấu cho thấy một người không có ơn Thiên Triệu, có thể kể đến như sự thiếu khả năng tự chế, nóng tánh cách bất thường để đưa đến việc không thể vâng lời, thiếu mềm dẻo, hay ghen tương, và phán đoán lệch lạc.
Tâm lý Ơn Gọi
Trong cuốn “Choosing a Vocation” (Chọn Lựa Một Nghề), Boston, 1909, ông Frank Parson, một nhà giáo dục và xã hội đã trình bày lý thuyết căn bản hình thành môn Tâm Lý Nghề Nghiệp (Vocational Psychology). Lý thuyết tâm lý nghề nghiệp của Parson được chia thành ba điểm chính:
1. Tự hiểu cách rõ ràng về chính mình, về những khuynh hướng, khả năng, quan tâm, tham vọng, phương sách, giới hạn của mình và những nguyên nhân của chúng.
2. Hiểu biết về những đòi hỏi và điều kiện của thành công, những ưu và khuyết điểm, những quyền lợi, cơ hội, và hi vọng thành công trong những chiều hướng khác nhau của công việc.
3. Suy tính thực sự về những tương quan giữa hai nhóm sự kiện nói trên.
Ngay sau khi Parson qua đời, lý thuyết của ông đã được nhiều người công nhận. Năm 1911, Đại học Harvard đã thành lập khoa huấn luyện những cố vấn hướng nghiệp, và năm 1913 Hội Hướng Nghiệp Quốc Gia (National Vocational Guidance Association) ở Mỹ đã được thành lập.
Mối quan tâm lớn của các nhà tâm lý ơn gọi Công giáo là làm thế nào có thể đưa những nguyên tắc phát triển hướng nghiệp vào việc tuyển chọn các ơn gọi tôn giáo. Ðã có những ý kiến khác biệt, tỏ mối lo ngại về việc đưa môn tâm lý thời đại, với vật chất và tự nhiên, (khuynh hướng của Freud), vào lãnh vực tôn giáo mà căn bản là siêu nhiên. Tuy nhiên, những nghiên cứu mới nhất đã cho thấy không có sự đối nghịch giữa khoa tâm lý hiện đại và môn thần học ân sủng trong việc thích ứng vào lãnh vực ơn gọi tôn giáo. Những thử nghiệm tâm lý không bao giờ qua mặt những phương thức tuyển chọn ơn gọi đã có, hoặc xen vào diễn tiến hướng dẫn tinh thần, nhưng chỉ đóng vai hỗ trợ những phương thức và kỹ thuật đã có.
Khoa tâm lý ngày nay đã và đang cung cấp những quan niệm có thể giải thích những phương diện tự nhiên của sự chọn lựa ơn gọi trong lãnh vực tôn giáo. Việc xử dụng những lý thuyết tâm lý đương thời vào sự chọn lựa ơn gọi tôn giáo còn cần thiết để tìm ra những nguyên nhân bỏ cuộc của các chủng sinh ở chủng viện, cũng như của các thỉnh sinh trong dòng tu, đồng thời xác định những người đang mang tâm bệnh để phòng ngừa.
Nhà tâm lý ơn gọi hôm nay đóng ba vai trò chính:
1. Là người chuẩn đoán (diagnostician), ông sẽ phải đối diện với câu hỏi về điều đã cấu thành sự thỏa mãn và mục đích trong tâm lý thẩm định của các thỉnh sinh về đời sống tôn giáo để chọn lựa dòng, triều.
2. Là người cố vấn, ông phải hỏi, cách cặn kẽ, vị hướng dẫn tinh thần của các thỉnh sinh về sự xác định giới hạn những hoạt động của các thỉnh sinh đó.
3. Là nhà khoa học thực hành, ông phải lướt qua tất cả những lý thuyết hướng tới sự chọn lựa ơn gọi và phát triển, đồng thời đưa những trực giác tự nhiên này đến lãnh vực ơn gọi tôn giáo.
Ơn Gọi đời sống siêu nhiên
Chúa mời gọi con người nhận lãnh món quà tình yêu của Ngài, là chính Ngài, để sống đời ân sủng cũng như những phương tiện Ngài cung cấp qua sự nhận lãnh đó. Vì cuộc sống này vượt trên tất cả những quyền lực, những nhu cầu thiết yếu, và những ơn riêng của bất cứ tạo vật nào khác, nên là cuộc sống siêu nhiên.
Những nhân vật được Chúa gọi sống đời siêu nhiên trong Cựu Ước như các tổ phụ Abraham, Môi-Sê, tiên tri Isaia… để thực hiện công tác làm cho dân Israel trở thành dân của Chúa hay cộng đồng giao ước, của tất cả mọi người (Acts 2:39) qua Ðức Kitô (Rom. 1:6; 1Cor. 7:20, 24) trong Ðức Chúa Thánh Thần (Eph. 4:4), trở nên chủng tộc mới của Chúa, dân Israel mới hay cộng đồng giao ước phục vụ ý định của Ngài trong lịch sử, chấp nhận những ân sủng của Ngài, sống và thờ phượng trong hi vọng được chia sẻ vinh quang muôn đời của Ngài (1 Thes. 5:24).
Toàn bộ Tân Ước dạy rằng, ơn gọi sống đời siêu nhiên đưa đến “ân sủng của Ðức Kitô” (Gal. 1:6), là đưa đến một cuộc sống không đơn thuần tự nhiên, nhưng siêu nhiên. Câu hỏi được đặt ra ở đây: Vì ơn gọi sống đời siêu nhiên không những là phổ quát, nhưng còn là cá nhân, vậy người ta có tự do chấp nhận hay phủ nhận ơn gọi này không? Một số nhân vật cấp tiến ở thế kỷ thứ XIX đã cho rằng, người ta không nhất thiết phải chấp nhận, vì ơn gọi này ban đi như một món quà tặng; chính Chúa cũng không ban truyền như một huấn lệnh. Ngược lại, giáo huấn Công Giáo, trong khi vẫn giữ phần hơn của sự siêu nhiên, dạy rằng ơn gọi sống đời siêu nhiên đòi hỏi tất cả mọi người phải chấp nhận và theo đuổi. (ÐGH Lêo XIII, Tông Huấn Libertas Praestantissimum – “Về bản tính của tự do con người.” 1888). Nhiều nhà thần học nghĩ rằng các thiên thần đã sa ngã và ông Adam đã phạm tội là vì không chấp nhận ơn gọi này và chỉ tìm kiếm hạnh phúc qua những sự vật tự nhiên mà thôi. Cũng vậy, Giáo Hội quan niệm rằng sự từ chối ơn gọi sống đời siêu nhiên là lỗi lầm căn bản của các thuyết tự nhiên (naturalism) và thế tục (secularism).
Bổn phận phải theo đuổi Ơn Thiên Triệu
Có hai ý kiến được các tác gỉa có thế giá trình bày. Ý kiến thứ nhất cho rằng bởi vì ơn Thiên Triệu làm LM hay TS không phải là huấn lệnh (precept), nhưng chỉ là lời khuyên (counsel), nên nếu không tuân hành cũng không phạm tội. Ðó là ý kiến của Vermeersch, Berthier, Bouvier, A. Carr, và E.P. Farrell. Tuy nhiên các tác giả này công nhận một luật trừ, trường hợp có sự bất khả kháng để được cứu rỗi.
Ý kiến thứ hai quan niệm rằng bất cứ ai được Chúa ban ơn Thiên Triệu đều có bổn phận phải theo đuổi, nếu không sẽ có tội, và sự nghiêm trọng của bổn phận sẽ được xét xử theo từng trường hợp. Ý kiến của các tác giả Cajetan, Thánh Alphonsus, Passerini, Leclercq, W. Farrell, S. Osbourn. Những lý do căn bản của ý kiến này là:
1. Giáo hội dạy rằng người ta không nên theo đuổi Ơn Thiên Triệu làm linh mục hay tu sĩ, nếu không được gọi cách nội tại (đã trình bày ở trên). Nếu không người đó sẽ dấn mình vào hướng sai lạc và có thể trở nên mối khó khăn cho chính mình và cho những người khác với mối nguy cơ của sự hư hỏng muôn đời.
2. Sự hoàn toàn từ chối cách tự nguyện sự linh ứng Thánh và ân sủng đã được nhìn nhận và hiểu biết là có tội. Tuy nhiên, Ơn Thiên Triệu này không có bổn phận phải theo, cho đến khi chính Chúa ban, qua sự linh ứng hoặc ơn thiêng chân chính. Nếu không Ơn Thiên Triệu chỉ là lời khuyên.
Như vậy vấn đề bổn phận không đặt trọng tâm Ơn Thiên Triệu trong sự trừu tượng, nhưng trong sự cụ thể, với tất cả những hoàn cảnh đã được cân nhắc, kể cả sự nhận biết về sự hiện hữu của ơn đặc biệt thúc đẩy người ta theo đuổi một hay cả hai Ơn Thiên Triệu nói trên. Cũng như ân sủng, các Ơn Thiên Triệu cần phải được nuôi dưỡng để luôn luôn có động lực và sinh tồn.
Các phương pháp giữ gìn Ơn Thiên Triệu
Mặc dù ơn Thiên Triệu thực sự do chính Chúa ban cách đặc biệt, nhưng các linh mục, tu sĩ vẫn cần phải phát triển và gìn giữ ơn thiêng ấy qua việc thực hành một số đòi hỏi cần thiết cho đời tu. Những đòi hỏi đó, một cách vắn tắt có thể kể đến việc suy gẫm, cầu nguyện, tĩnh tâm và cẩn trọng trước những mời gọi hoàn toàn có tính cách thế gian. Luôn cố gắng thực hành những nhân đức bác ái, trong sạch, độ lượng và vâng lời, đồng thời phát triển tinh thần xả kỷ, hy sinh.
Những hoạt động cần thiết để vun trồng một Ơn Thiên Triệu khi còn ở chủng viện vẫn phải được tiếp tục trong đời sống linh mục, tu sĩ. Sự bền đỗ đòi hỏi một số điều kiện mà trên hết là tinh thần khiêm nhường với sự nhận biết hoàn toàn những yếu đuối của mình trong sự cẩn trọng. Ơn Thiên Triệu không phải được nhận lãnh rồi thôi, nhưng vẫn luôn luôn cần sự để ý, chăm sóc; và cũng như ân sủng, ơn Thiên Triệu không bao giờ ngừng thăng tiến. Sự thay đổi duy nhất của ơn Thiên Triệu nảy sinh từ việc không ngừng khám phá những chiều kích mới hướng tới đỉnh trọn lành. Ðiều này sẽ làm gia tăng sự quân bình trong nhân đức và ân sủng, nền tảng của mọi đời tu.
Thánh Phaolô viết: “Ðiều tôi khẩn nguyện là xin cho lòng yêu mến nơi anh em được đầy tràn mãi mãi trong tri thức và tất cả nhận thức để anh em có thể minh chứng những điều tốt hơn”(Phil. 1:9-10), Điều này cần được nhắc lại như một khuyến khích cho những ai đang muốn đáp lại lời mời gọi dấn thân sống đời tu trì. Ơn Thiên Triệu còn có thể tìm thấy những tương đồng trong cuộc Truyền Tin, cả chương trình cứu chuộc của Chúa Kitô đã được trình bày như một lời mời gọi và tùy thuộc vào sự chọn lựa hoàn toàn tự do của Ðức Mẹ Maria.
Thứ Ba, 18 tháng 7, 2000
Linh mục Tiến sĩ Giuse Nguyễn Như Tự (1933 -1987)
Thánh hiệu : Giuse (Joseph)
Chức sáu : ngày 13/03/1959 tại Italya
Đỗ 02 bằng Tiến sĩ Thần học và Giáo luật.
Phụ tá Công giáo tiến hành và Linh Giám Comitium Huế : 01/06/1966
Ngài có 02 Người con tinh thần là Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý (hiện sinh hoạt tại giáo phận Huế ) và Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Phương (hiện sinh hoạt tại giáo phận Nha Trang ).
Ngài lâm bệnh nặng và phải điều trị tại Sài gòn nhưng bệnh tình không thuyên giảm, bà con của Ngài đưa Ngài về Giáo xứ Quảng Biên ( thuộc giáo phận Xuân Lộc) để chạy chữa, lo lắng cho Ngài trong những ngày cuối đời và dự định sẽ lo hậu sự cho Ngài tại Giáo xứ Quảng Biên.
Nhưng trong thời gian bệnh nguy kịch các giáo dân xứ Phú Nhơn đã vào xin đưa Ngài về giáo xứ. Trên chuyến xe đưa Ngài về Giáo xứ Phú Nhơn có thân nhân gia đình Ngài và đại diện Ban hành giáo. Trong lúc hôn mê Ngài đã chịu các phép bí tích cuối cùng tại Tòa Giám mục địa phận Xuân lộc - Long Khánh. Về đến Giáo xứ Phú Nhơn một hồi chuông kéo dài ngân vang để đón Ngài cũng là hồi chuông tiễn biệt Ngài. Ngài qua đời ngày 19/07/1987 hưởng dương 54 tuổi.
