Thứ Năm, 20 tháng 4, 2006

Thánh Bartôlômêô Tông đồ

Ngày 24/8 Kính Nhớ
             Mỗi người đều có một lối sống, mỗi người đều có một phong cách khác nhau. Các thánh cũng vậy. Cuộc sống của các thánh luôn có một mẫu số chung: sống giống Ðức Kitô. Thánh Ba-Tô-Lô-Mêô, tông đồ, Giáo Hội tôn kính hôm nay cũng không nằm ngoài định luật muôn thuở: họa lại hình ảnh thật nhất của Chúa Giêsu Cứu Thế.
BA-TÔ-LÔ-MEÔ ÐƯỢC TUYỂN CHỌN LÀM TÔNG ÐỒ
batolomeo

Philipphê gặp ông Na-tha-na-en và nói: "Ðấng mà sách Luật Môsê và các ngôn sứ nói tới,chúng tôi đã gặp: đó là ông Giêsu, con ông Giuse,người Na-Da-Rét". Ông Na-tha-na-en liền bảo: "Từ Na-Da-Rét,làm sao có cái gì hay được ?". Ông Philipphê trả lời:"Cứ đến mà xem" ( Ga 1,45-46 ).
Cứ đến mà xem là lời mời gọi ông Na-tha-na-en trở thành tông đồ đích thực của Chúa Giêsu. Sự kỳ diệu và hết sức lạ lùng là khi Chúa Giêsu vừa thấy Na-tha-na-en, Người đã nói:"Ðây đích thật là một người Is-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối" ( Ga 1, 47 ). Việc Chúa gọi Na-tha-na-en tức Ba-Tô-Lô-Mêô thật là huyền nhiệm vì chính Chúa đã thấy, đã biết ông khi ông đang ở dưới cây vả (Ga 1,48).Chúa nói: "lòng dạ của Na-tha-na-en không có gì gian dối". Ðiều này nói lên hồng phúc của Ba-Tô-Lô-Mêô vì tâm hồn mới là quan trọng . Người ta thường ví von: "Hữu ư trung xuất hình ư ngoại" ( Trong có gì thì biểu lộ ra bên ngoài ). Chính lúc, Na-tha-na-en tuyên xưng: "Thưa Thầy, chính Thầy là con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Is-ra-en "( Ga 1, 49).Chúa
Giêsu đã tuyển chọn Na-tha-na-en làm "Apostoloi", nghĩa là tông đồ. Ðó là giờ cứu độ, giờ hồng phúc của Ba-Tô-Lô-Mêô, giờ Ba-Tô-Lô-Mêô được lột xác trở nên hoàn toàn tùy thuộc vào Chúa. Làm tông đồ nghĩa là thuộc trọn vẹn về Chúa.
NHƯ MỌI TÔNG ÐỒ BA-TÔ-LÔ-MÊÔ ÐƯỢC SAI RA KHƠI (DUC IN ALTUM) THẢ LƯỚI
              Thả lưới nghĩa là phải ra xa bờ, chọn chỗ nhiều cá. Ra khơi có nghĩa là tin vào Chúa vì có thể trong cuộc hải hành sẽ gặp sóng to, gió lớn, sẽ gặp nhiều chuyện trục trặc, nhưng tin, cậy vào Chúa sẽ được Chúa giải thoát .Ba-Tô-Lô-Mêô đã cùng với các bạn trong nhóm 12, theo Chúa Giêsu trên khắp các nẻo đường truyền giáo, theo Thầy làm chứng có nước trời, có Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Theo Thầy để học hỏi những kinh nghiệm của Thầy, lãnh nhận những tư tưởng, chân lý và Tin Mừng, giáo lý của Thầy hầu chuẩn bị cho việc ra khơi mai sau. Theo Thầy để lãnh nhận quyền và sự thật mà Thầy sẽ trao phó cho: "Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em". Và, sau khi Chúa về trời, các tông đồ lãnh nhận Chúa Thánh Thần, Ba-Tô-Lô-Mêô được sai đi loan báo Tin Mừng tại Ấn Ðộ, vùng Lycôni và Arménie. Thánh Ba-Tô-Lô-Mêô đã làm chứng cho Chúa phục sinh bằng gương sáng đời sống thánh thiện, đạo đức của Ngài, bằng những lời chân thật, tài lợi khẩu, hoạt bát và những phép lạ Chúa ban cho, thánh nhân đã đưa được biết bao người ngoại giáo trở về.Thánh nhân đã trở nên giống Chúa Kitô như thánh Phaolô nói : "Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Ðức Kitô sống trong tôi "và" Tôi có thể làm được mọi sự trong Ðấng ban sức mạnh cho tôi". Chính tình yêu Chúa Kitô thúc bách thánh nhân.
Ba-Tô-Lô-Mêô đã thực hiện việc rao giảng bằng chính cuộc đời của Ngài: từ bỏ, hy sinh và hết lòng trở nên giống Chúa Kitô. Thánh nhân đã trừ quỉ cho công chúa của vua Polêmon và nhiều người khác, đặc biệt Ngài đã hoán cải và đưa cả gia đình nhà vua polêmon trở lại đạo công giáo .
Thánh nhân đã làm chứng cho Chúa bằng chính mạng sống của mình đúng như lời Chúa phán: "Tôi tớ không hơn chủ". Vì ghen tức thánh nhân, các sư sãi và các quan chức triều đình đã vu cáo, khai gian cho thánh nhân đủ điều và Ngài đã bị vua Attiges bắt, bỏ tù, hành hạ đủ mọi cực hình và lãnh án trảm quyết cho tới hơi thở cuối cùng vào năm 52.
               Lạy thánh Ba-Tô-Lô-Mêô, tông đồ xin đến giúp chúng con để chúng con có lửa nhiệt thành như thánh nhân hầu làm chứng cho Chúa sống lại.
Xin cho chúng con ơn can đảm để chúng con luôn biết lướt thắg mọi thử thách chông gai của cuộc đời.
Xin thêm đức tin cho chúng con để chúng con chỉ biết cậy trông vào Chúa.

Linh mục Giuse Nguyễn hưng Lợi DCCT

http://mtgcaimon.net/mtgnews/index.php/suy-niem/hanh-cac-thanh/789-thanh-batolomeo-tong-do.html

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2005

 

ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO  

 

        “Không hiểu biết mà vẫn tin”, đó là lời mỉa mai thường có từ những người ngoài Công Giáo phê bình tín đồ Công Giáo. Họ cho rằng “người Công Giáo” u mê, mù quáng, bịt tai che mắt trí thức, chỉ biết tin tưởng một cách thụ động. Họ lấy câu nói của Đức Giêsu “Phúc cho ai không biết mà tin” để xây dựng sự phản biện của họ. Trên thực tế, nếu sự tin tưởng đến sau sự hiểu biết của trí óc, thì điều mình tin đã được trí óc thấy và hiểu rõ ràng, nó trở thành hiện thực, sự tin tưởng còn đặt ra làm gì. Thêm nữa, lối tin tưởng một cách thụ động vẫn là điều kiện sống của con người. Trẻ con tin vào cha mẹ; học trò tin vào thầy giáo; quần chúng tin vào lãnh tụ… Ngay cả những người mỉa mai nêu trên cũng đã và đang sống như vậy. Nói chung, tin tưởng là sự qui phục của tri thức hướng về một đối tượng nào đó. Tuy nhiên niềm tin dựa vào tri thức thường nghiệm này không phải là niềm tin siêu nghiệm (transcendentality) mà Công Giáo nói tới.

        Có sự khác biệt một trời một vực giữa một vị lãnh tụ nói với kẻ đi theo của hắn, “Phúc cho ai không biết mà tin”, và khi Đấng Tạo Hóa nói câu đó với kẻ thụ tạo. Thiên Chúa không nói tới những đối tượng tri thức, nhưng nói tới khả năng tri thức giới hạn của con người. Đối với Công Giáo tin vào Thiên Chúa được gọi là “đức” tin, vì sự cảm nhận này có tính siêu nghiệm (hiểu biết không do kinh nghiệm trí thức) và là một đức hạnh (virtue). Ba đức hạnh phải có để gia nhập Công Giáo là đức tin, đức cậy, và đức mến. “Đức tin” đứng đầu vì là căn gốc của tất cả. Nếu không tin có Thiên Chúa, làm sao chúng ta có thể đến với Người (Dt 11:6). Để nhấn mạnh điều này, Giáo hoàng Phanxicô đã chọn chủ đề “Ánh Sáng Đức Tin” (Lumen Fidei) cho thông điệp đầu tiên trong triều đại của ngài. Công Giáo gọi giáo dân là “tín đồ” hay “tín hữu” cũng là cách minh xác họ là những “người có đức tin”. Trong số ba đức hạnh nêu trên, đức cậy và đức mến ý nghĩa đã rõ ràng, riêng đức tin thường dẫn đến những ngộ nhận và những hệ tư tưởng khác nhau dễ gây ra hoang mang. Vì vậy Kitô hữu chúng ta nên hiểu rõ bản chất của đức tin.

Đức tin là gì?

        Công Đồng Thứ Nhất (Nicea, 325) định nghĩa: “Đức tin là sự linh cảm, qua sự trợ giúp của Thiên Chúa, để chấp nhận chân lý siêu việt do Thiên Chúa tiết lộ. Chúng ta tiếp nhận lời Chúa không phải vì chúng ta hiểu được nội dung chân lý qua lý luận tự nhiên, nhưng do bởi chấp nhận thẩm quyền của Thiên Chúa, Đấng hằng hữu, Đấng chính là chân lý, Đấng tự biểu lộ, Đấng không lừa dối và không bị lừa dối.”

        Thần học đi sâu hơn vào bản tính của đức tin. Để giản dị hoá những ý niệm trừu tượng của thần học, tôi xin đưa ra một sự kiện cụ thể, đó là tín điều “Một Thiên Chúa có Ba Ngôi”. Linh ảnh này không ai thấy, không ai hiểu, nhưng Kitô hữu vẫn tin. Tại sao? Tại vì Đức Giêsu dạy như vậy. Theo thánh Augustine, đức tin là chấp nhận lời nói, mình nghe được từ đấng có thẩm quyền. Thánh Phaolô nói, “Đức tin đến từ sự nghe” (Rm 10:17). Người duy nhất có thẩm quyền nói ở đây là Thiên Chúa. Những gì Thiên Chúa tiết lộ được gọi là mạc khải. Qua mạc khải những sự thật siêu việt của Thiên Chúa được truyền cho con người. Con người, dù thông minh đến đâu cũng không thể tự mình tìm biết được. Đây là chứng từ của Đức Giêsu: “Không ai biết Con trừ Cha, và không ai biết Cha trừ Con và kẻ được Con mạc khải cho” (Mt 11:27). Như vậy đức tin là mối liên kết riêng tư của cá nhân với Thiên Chúa.

        Chúng ta hãy phân biệt giữa “sự tin tưởng” của đời thường và “đức tin”. Chẳng hạn chúng ta tin có dòng điện lưu chuyển trong vũ trụ. Dù không thấy dòng điện nhưng sự hiện hữu của nó đã được chứng minh, vì nó làm cháy sáng bóng đèn. Như vậy tin tưởng là thành quả của tri thức trải qua những biện luận, dựa vào những chứng cớ có thể kiểm chứng. Trái lại đức tin là tin vào điều mà mình chưa hề biết tới vì nó vượt khỏi tầm hiểu biết của con người. Trong đức tin không có lý luận, vì có dùng lý luận cũng không thể tìm ra. Đức tin hoàn toàn phụ thuộc vào ơn soi sáng từ Thiên Chúa đánh động và lôi cuốn tâm hồn của ta. Trí óc chỉ dùng để tiếp nhận chứ không dùng để hiểu. Đức Giáo Hoàng Gioan Phalô II nói, “Không ai hiểu được Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa là Đấng có thể hiểu được thì vị đó không phải là Thiên Chúa.” Cho dù có người nào đó tự xưng là đã dùng trí óc để hiểu chân lý thì nhận thức đó không phải là đức tin. Nó chỉ là sản phẩm tư tưởng của người đó. Đức tin không đến từ suy luận trí óc, nhưng là một ơn phước.

        Cha Karl Rahner, nhà thần học vĩ đại của Công Giáo, nói rõ hơn về ơn phước đức tin. Theo Rahner, khi Thiên Chúa nói với con người, Chúa không dạy bảo một kiến thức hay loan báo một tài liệu thông tin. Khi đó Chúa tỏ lộ tình yêu với nhân loại, mạc khải về mục đích tối hậu của sự sống, và niềm hy vọng tuyệt hảo của ơn cứu độ, cùng lúc Chúa ban ơn đức tin cho người nghe. Điểm khởi đầu của đức tin là cái gì đó thúc đẩy lý trí chấp nhận điều mình nghe, một nhận thức siêu nhiên nảy sinh trong ý thức (siêu nghiệm). Như vậy đức tin là một ơn phước về sự mạc khải.

Đặc tính của đức tin

        Công Đồng Trent (1545 -1563) dạy rằng đức tin không phải là trạng thái tĩnh của ý thức, mà là một động năng. Bởi vì đức tin không phải là một ý thức suông, đứng độc lập, nhưng biểu hiện trong việc làm. Đúng tên của đức tin là “hành vi đức tin”. Thần học dẫn giải thêm, nếu đức tin là sự qui thuận của tri thức, nó phải có một đối tượng nào đó nằm bên ngoài con người. Nhưng ở đây, người tin không nhắm vào một đối tượng bên ngoài, mà là mối cảm xúc dấy lên từ nội tâm. Rồi sức mạnh cảm xúc ấy tỏa ra bên ngoài tới khắp mọi chiều hướng. Hiểu một cách bình thường, những gì chúng ta thường làm như cầu nguyện, dự thánh lễ, giữ phép đạo… đều là những “hành vi đức tin”. Theo Thánh Thomas và Thánh Bonaventure, ngay khởi đầu khi cá nhân tự do chấp nhận Lời Chúa, chính sự quy phục ấy đã là một hành vi đức tin.

        Karl Rahner khảng định hành vi đức tin có ba yếu tố: siêu việt, có ý thức, và có ý chí tự do. Gọi là siêu việt vì đức tin là ơn của Thiên Chúa ban cho. Gọi là có ý thức vì đức tin được tiếp thu qua trí óc con người. Gọi là ý chí tự do vì cá nhân tự ý tin chứ không bị ép buộc phải tin. Cùng một nhận định, Thánh Thomas cho rằng đức tin là thái độ của trí óc chấp nhận chân lý thánh (divine truth); thái độ này được tác động bới ý chí; ý chí này được tác động bởi ơn Chúa. Qua nhận định của Karl Rahner và của Thánh Thomas, chúng ta thấy cả hai vị đều không nêu ra cái gì gọi là chứng cớ thực nghiệm hay biện luận trí óc, mà đưa ra ba tác động nối kết nhau: 1) Thiên Chúa ban ơn linh ứng. 2) Ơn này tác động ý chí tự do tiếp nhận. 3) Ý chí tác động tri thức chấp nhận. Trong diễn trình này Thiên Chúa không phá vỡ luật tự nhiên, bởi vì Thiên Chúa không ép buộc ý chí và tri thức phải chấp nhận những gì Chúa nói (Rm 4:16; GLCG 160). Nhận định của Rahner và của Thánh Thomas, vô hình trung, đã loại bỏ những niềm tin như mê tín dị đoan và sự tin tưởng mù quáng. Chúng là những niềm tin trống rỗng và tuyệt vọng. “Niềm tin mà không có chân lý thì không có khả năng cứu độ và không bảo đảm cho bước đi của chúng ta.” (Giáo Hoàng Phanxicô, thông điệp Lumen Fidel ‘Ánh Sáng Đức Tin’, chương 2, đoạn 24). Đồng thời chúng ta cũng nhận ra mê tín dị đoan là kết quả của kiến thức trí óc lạc đường trong bầu sương mù của dục vọng.

Công Giáo tin những gì

        Trước hết, Công Giáo tin những mạc khải về chân lý do Thiên Chúa tiết lộ, và những gì được rao giảng bởi Ngôi Lời nhập thế. Nguồn mạc khải này đã được ghi trong bộ “Thánh Kinh” và trong 4 sách Phúc Âm. Đó là truyền thống đúng nhất về đức tin của Công Giáo. Để tóm tắt những tín lý căn bản, vào thế kỷ II, các thánh Tông Đồ đã soạn ra bản văn gọi là “kinh Tin Kính” (Apostle’s Creed).

        Kế đó, tín hữu Công Giáo cũng tin vào những sự thật, do Giáo Hội rút ra từ mạc khải. Giáo Hội cô đọng chúng trong những mệnh đề gọi là tín điều (dogma), chẳng hạn tín điều “Đức Mẹ hồn xác lên trời”. Tín điều không phải là những điều do Giáo Hội tự ý đặt ra, nhưng do lãnh nhận từ Lời Chúa. Vì vậy mỗi tín điều đều hội đủ hai yếu tố: 1) Nói lên một sự thật. 2) Là thành phần của Lời Chúa. Ai không chấp nhận những tín điều do Giáo Hội loan truyền thì người đó không phải là tín đồ Công Giáo.

Tác động của đức tin

        Thánh Anselmo tóm lược tác động của đức tin trong châm ngôn “Đức tin đi tìm sự hiểu biết” (Fides quaerens intellectum). Đức tin thúc đẩy chúng ta hành động theo Thánh Ý Chúa nhờ đó mà cảm nghiệm sâu xa trong sự hiểu biết. Thánh Augustine nói, “Tôi tin để hiểu và tôi hiểu để tin”. Điều đó có nghĩa là đức tin phải có trước rồi sự hiểu biết về những gì mình tin sẽ tới sau. Hiển nhiên con người không thể đòi hỏi phải hiểu biết Thiên Chúa trước, rồi mới tin. Tuy nhiên chúng ta cũng không thể nói: “Tôi chỉ cần tin, tôi không cần hiểu biết”. Chúng ta cần cả hai. Tuy đức tin vượt khỏi lý trí nhưng không nghịch lại với lý trí, bởi vì cả đức tin lẫn lý trí đều là ơn phúc do Thiên Chúa ban cho. Trong thông điệp Fides et Ratio (Đức tin và Lý trí), đức Gioan Phaolô II viết, “Đức tin và Lý trí như đôi cánh giúp con người vươn cao trong chiêm nghiệm chân lý. Chính Thiên Chúa đã đặt trong tâm con người ước vọng tìm kiếm chân lý, để rồi cuối cùng con người nhận biết Thiên Chúa, ngõ hầu thấu đạt sự thật về mình một cách đầy đủ”.

        Khi Đức Giêsu ban phép lạ, Người luôn luôn đòi hỏi người lãnh nhận phải có đức tin. Đức Giêsu đã không thể ban phép lạ ở Nazaret vì dân nơi đó thiếu đức tin (Mc 6:5). Người kêu gọi môn đồ, “Hãy tin vào tin mừng” (Mc 1:15). Như vậy đức tin tác động vào tâm hồn con người khiến con người biết hy vọng vào những điều từ Thiên Chúa mà bình thường không thể nào xảy ra (Mc 1:22). Từ những sự kiện này đã dẫn tới một quan điểm thần học: “đức tin công chính hóa con người”, nghĩa là con người được cứu rỗi nhờ có đức tin. Cũng từ nhận định sơ khởi ấy, Thánh Phaolô đưa ra châm ngôn: “chỉ một mình đức tin” (sola fide. Rm 10:8-13; Gl 3:2). Tin Lành đã lấy chính câu nói này để làm nền tảng xây dựng môn thần học cứu rỗi. Hệ tư tưởng ấy đã khiến Tin Lành tách biệt với Công Giáo vì đã nhìn “đức tin” theo hướng khác. Đây là điểm rất quan trọng của tác động đức tin mà Kitô hữu chúng ta cần biết rõ.

        Sự khác biệt về đức tin giữa Tin Lành và Công Giáo không phải là chủ đề của bài này nên tôi chỉ trình bày một cách giản lược. Về phía Tin Lành, Luther bám sát mạch văn “chỉ có đức tin” suy luận rằng dù con người có làm lành cách nào cũng không xứng đáng vào thiên đàng. Con người được cứu độ chỉ nhờ có đức tin. Đức tin tự đứng một mình là luật duy nhất và là chìa khóa của ơn cứu độ. Như vậy Tin Lành đã thấy đức tin là một liên kết thuần tâm linh trong tâm hồn của mỗi cá nhân. Đàng khác, Công Giáo cho rằng đức tin rất cần thiết, nhưng không là nguyên lý duy nhất của ơn cứu rỗi. Đức tin chỉ là một đức tính trong 3 đức tính cần thiết: tin - cậy - mến. Tin Lành đã dừng lại ở đức tin, nơi chỉ là bước khởi đầu. Vả lại lời dạy của Thánh Phaolô không thể tách rời độc lập khỏi toàn bộ Phúc Âm còn gồm lời dạy của các vị tông đồ khác. Thêm nữa, Công Giáo cho rằng tự bản chất, đức tin bao gồm tri thức, ý chí, và việc làm. Như vậy đức tin là toàn bộ tiến trình đời sống của cá nhân, biểu hiện kể từ lúc rửa tội cho đến khi qua đời.

        Điểm khác biệt chính giữa Công Giáo và Tin Lành là khái niệm “trở nên công chính”. Trở nên công chính nghĩa là gì? Thần học Công Giáo nhận diện đúng theo ý đã được dùng trong Tân Ước, nó có nghĩa là thay đổi từ tình trạng tội lỗi qua tình trạng sạch tội. Muốn vậy kẻ tội lỗi phải có lòng ăn năn thống hối. Như vậy để được nên công chính ta phải có đức tin của lòng ăn năn thống hối, rồi mới lãnh được ơn cứu độ (Lc 24:47; Cv 2:38; 3:19; 17:30; Rm 2:4; 1 Cr 7:9-10). Công Giáo đã đặt đức tin vào đúng thực trạng của nó là sự thay đổi con người. Sự thay đổi này phải có trong thái độ sống. Vì vậy từ thế kỷ V, Giáo Hội đã minh xác đức tin vừa là ơn Thiên Chúa vừa là tác động của con người. Những gì chúng ta tin sẽ uốn nắn nếp suy nghĩ, hành động, và nếp sống của chúng ta cho hợp với đức tin của mình. Thánh Giacôbê nói, các anh tin Thiên Chúa, có gì lạ, ma quỉ cũng tin như thế (Gc 2:19). Cho nên chỉ tin không chưa đủ. Giáo lý này Đức Giêsu đã dạy khi thấy có ông Pharisêu ca tụng đức tin và công đức của mình trong khi ông thu thuế đấm ngực thống hối cầu nguyện. Rốt cuộc ông thu thuế được nên công chính còn ông Pharisêu tự mãn thì không (Lc 18:9-14). Đức Giêsu vạch rõ, khi chúng ta đang ở trong tội lỗi, không có bất cứ gì khiến chúng ta trở nên công chính dù là đức tin hay những việc làm tốt. Ơn tha thứ của Thiên Chúa không phải là phần thưởng hay món hàng trao đổi. Nhận được ơn trở nên công chính hoàn toàn do ơn của Thiên Chúa ban cho người có lòng thống hối ăn năn. Trong trường hợp vừa nói, ông Pharisêu có đức tin vững mạnh nhưng không phải là đức tin của lòng thống hối ăn năn, nên ông đã thất bại. Cũng vậy khi phạm tội, dù ta có tin Thiên Chúa vững mạnh cỡ nào, tội vẫn chẳng được tha, cho đến khi ta đi xưng tội, tức có đức tin với lòng thống hối ăn năn, bấy giờ tội mới được tha.

        Thần học phân tích rõ hơn, con người hiện hữu trong ba thể không tách rời là: thần khí, linh hồn, và thể xác. Chính Thánh Phaolô cũng đã thấy như vậy (1Tx 5:23). Theo Peter Kreeft, mỗi thể có một dạng đức tin riêng. Thể xác thuộc thế giới vật chất, nên đức tin của thể xác biểu lộ qua những việc làm liên hệ với tha nhân, điều mà Thánh Giacôbê đã nói, “Đức tin không có việc làm là đức tin chết… nhờ có việc làm đức tin mới hoàn tất” (Gc 2:17, 22). Chính Thánh Phaolô cũng đã làm sáng tỏ điều này qua lá thư gửi tín hữu Do Thái, chương 11. Trong thư, Thánh Phaolô mô tả đức tin của dân Do Thái qua những gì họ làm cho cộng đồng. Đức tin của thể linh hồn là trí khôn, lòng hy vọng, và lòng trông cậy. Cuối cùng đức tin trong thể thần khí là sự qui thuận Thiên Chúa trong ý chí tự do.

        Trong thánh kinh có rất nhiều dẫn chứng về sự phối hợp giữa đức tin của 3 thể nêu trên. Tôi xin đưa ra một vài dẫn chứng tiêu biểu. “Ai đi trong lẽ phải, Ta sẽ cho biết ơn cứu độ của Chúa” (TV 50: 23). Đức Giêsu phán cùng các môn đệ, “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14:5). "Không phải tất cả những ai nói ‘Lạy Chúa, Lạy Chúa’, là được vào nước trời, nhưng chỉ có người thực hiện ý Cha Thầy ở trên trời, kẻ ấy mới được vào nước trời” (Mt 7:21-29). Tông Đồ Gioan vạch rõ, “Chỉ có điều này mới chứng tỏ chúng ta biết Chúa: đó là biết tuân giữ giới răn của Chúa. Còn ai nói mình đã biết Chúa mà không giữ giới răn Chúa, đó là kẻ nói láo, trong nó không có sự thật” (1Ga 2:3-4). Trong sách Khải Huyền Thánh Gioan thấy hình ảnh:“Tôi thấy những người chết đứng trước ngai. Sách đã mở sẵn… đó là Sách Trường Sinh. Các người chết được xét xử tùy theo việc họ làm đã được ghi trong sách” (KH 20:12). Chính Thánh Phaolô cũng nhận ra, “Anh em thân mến… hãy biết kính sợ mà gắng sức lo việc cứu rỗi, vì chính Thiên Chúa, do lòng yêu thương của Người, đã tác động ý chí và việc làm của anh em” (Pl 2:12-13). Đây chính là giáo lý Công Giáo từ cổ thời đến nay không dứt đoạn.

        Tóm lại đức tin không phải là một ý niệm suông, hoặc một niềm tin thuần lý trí. Vì sự hiểu biết của con người rất giới hạn, vô số những điều huyền nhiệm Thiên Chúa tạo dựng nằm bên ngoài khả năng nhận thức của con người. Do đó Thiên Chúa ban cho con người đức tin để vượt qua giới hạn của lý trí mà “được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời” (Mt 13:11). Tín Hữu Công Giáo bắt đầu nhận ơn đức tin qua bí tích rửa tội, rồi qua tất cả những bí tích lãnh nhận sau đó trong đời mình. Tuy nhiên người lãnh nhận chỉ thật sự có đức tin khi trí óc chấp nhận “ơn đức tin” do ơn Thiên Chúa ban cho. Khi đã có đức tin, Kitô hữu chúng ta phải biểu lộ đức tin qua hành động. Bởi vì đức tin không những là lòng tin tưởng, lòng hy vọng, mà còn là sự tuyên xưng tin mừng qua những hành vi đạo đức (Rom 10:8-13). Nếu không giữ được như thế đức tin sẽ từ từ chết, “Vì ai có, sẽ được cho thêm mà nên dư dật; còn kẻ không có, thì điều có cũng bị lấy mất” (Mt 25:29).

        Đỗ Trân Duy

 

Thứ Tư, 31 tháng 3, 2004

 

    TÍN THÁC VÀO THIÊN CHÚA   


        Con người đau khổ, đó là điều dĩ nhiên. Nhưng đau khổ không phải là một cái gì thừa thãi và vô ích, chính Chúa Giêsu cũng đã từng chịu đau khổ, nhưng Ngài đã mặc cho những đau khổ ấy một giá trị tuyệt vời và đã dùng những đau khổ ấy để cứu chuộc chúng ta. Rồi Ngài lại phán: Phúc cho những ai than khóc vì Nước Trời là của họ.

          Vậy thì chị là người đang đau khổ, Nước Trời là của chị đó. Nếu không có Nước Trời, thì tôi sẽ lên tiếng kêu gọi mọi người đau khổ hãy đoàn kết, chống lại số mệnh, chống lại Thiên Chúa. Nhưng Nước Trời còn đó, và Thiên Chúa đang chờ đón chúng ta. Hãy để Ngài tẩy rửa và thanh luyện chúng ta nên xứng đáng với hạnh phúc tuyệt vời ấy.

          Đừng hỏi tại sao Thiên Chúa lại dựng nên bông hồng có những gai nhọn, Ngài có chương trình của Ngài. Hãy để cho Ngài uốn nắn và hành động. Thái độ khôn ngoan nhất là biết nép mình vào bàn tay Chúa. Nếu cây cối chống trả với ngọn gió, nó sẽ bị gẫy đổ, nếu chúng ta chống trả với Thiên Chúa, đời chúng ta sẽ chồng chất thêm nhiều khổ đau, dù cuộc đời chúng ta có sóng gió, thì cũng hãy tin tưởng vào Thiên Chúa vì trước mặt Thiên Chúa, chúng ta đáng giá hơn chim trời và hơn hoa cỏ đồng nội rất nhiều.

          Tin tưởng phó thác vào Chúa quan phòng không có nghĩa là ỷ lại, để cho Chúa lo mọi sự, nhưng trái lại, phải có sự cộng tác của chúng ta. Đây là bằng chứng: ngày từ đầu Thiên Chúa đã trao trái đất cho con người coi sóc, Đức Giêsu đã làm nghề thợ mộc tại Nazareth và thánh Phaolô cũng chủ trương ai không làm việc thì không có quyền ăn. Vậy, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cứ làm việc bình thường, đừng bồn chồn lo lắng. Hãy quên đi quá khứ, hăng say làm việc trong hiện tại và đặt tương lai vào trong bàn tay Chúa quan phòng.

          Hơn bao giờ hết, con người thời nay đang sống trong một sự khắc khoải lo sợ. Đúng vậy, người ta lo sợ trước bệnh tật, tuổi già và chết chóc. Người ta lo sợ trước chiến tranh và vũ khí nguyên tử. Người ta lo sợ trước những điều rủi ro làm mất tiền, mất tình và mất hạnh phúc. Cuộc sống như trở nên bấp bênh vô định. Khắp nơi đều có những đe doạ, những hiểm nguy. Người ta dùng tới mọi phương tiện miễn sao tìm thấy được một sự bảo đảm an toàn. Từ những phương tiện chính đáng như các công ty bảo hiểm đến những phương tiện kỳ cục và vô lý chẳng hạn như bói toán và kiêng cữ.

          Ta thấy có bốn lần Chúa Giêsu dạy chúng ta đừng quá lo lắng đến nỗi mất tin cậy vào Thiên Chúa. Khi nói như thế, Ngài muốn chúng ta đừng tìm bảo đảm nơi của cải nay còn mai mất, mà phải tìm cái cốt yếu cho cuộc đời trước đã, rồi mọi sự khác sẽ được thêm cho. Lo lắng quá cũng chẳng giải quyết được gì: “Dù có lo lắng đi nữa, hỏi có ai trong các con kéo dài đời mình thêm được một vài gang tấc không?”. Tín nhiệm hoàn toàn vào Thiên Chúa không có nghĩa là sống trong thụ động, mà là cộng tác với công việc của Thiên Chúa tùy ơn gọi của mỗi người: tự giúp mình thì trời sẽ giúp cho.

          Thiên Chúa biết rõ chúng ta không phải là những con chim hay bông hoa ngoài đồng, mà là những con người phải làm việc để nuôi thân và góp phần xây dựng gia đình và xã hội. Chúa dạy chúng ta “trước hết hãy tìm” nghĩa là hẫy đặt đúng chỗ công việc: việc nào trước, việc nào sau. “Trước hết hãy lo tìm Nước Chúa và sự công chính của Ngài”, lời này đặt nền tảng cho người Kitô hữu trong việc chọn lựa: Thiên Chúa phải chiếm chỗ ưu tiên trong con người và công việc của chúng ta, rồi đến việc cứu rỗi bản thân và đưa người khác về với Chúa; đảo lộn trật tự này tức là đi ngược thánh ý và chương trình của Thiên Chúa.

          Lo lắng chủ yếu là không tín thác vào Chúa. Sự không tín thác như thế có thể hiểu được nơi người ngoại giáo với tin tưởng vào một thần linh ganh tị, thất thường, không thể đoán trước được, nhưng không thể hiểu được nơi một người đã học gọi Thiên Chúa là Cha. Khi chúng ta đặt chính mình vào đôi tay của Thiên Chúa, chúng ta mở lòng mình để hưởng nhờ ơn Chúa bảo vệ chúng ta. Và chúng ta có thể sống đời sống của mình và cử hành giây phút hiện tại.

          Tin vào Chúa quan phòng không phải là trao hết mọi việc vào tay Chúa rồi sống ỷ lại với tư tưởng:”Trời sinh voi, trời sinh cỏ” rồi “ngồi há miệng chờ sung rụng”. Tin Chúa quan phòng không được mang tính cách thụ động, không phải thái độ vô vi, yếm thế, buông trôi. Đức tin chân chính phải thể hiện bằng việc làm, càng tin, càng phải đem hết sức mình cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa: biết xây dựng trần thế tốt đẹp như khi Ngài dựng nên mọi sự tốt đẹp.

          Nếu Chúa Giêsu nói:”Các con không phải làm gì cả, cứ tin vào Chúa quan phòng” thì tại sao trong toàn bộ Thánh Kinh, ngay từ đầu, Thiên Chúa đã nói điều ngược lại? Chương đầu tiên của sách Sáng thế đã cho chúng ta lệnh truyền:”Hãy thống trị đất và bắt nó pục tùng”.

          Thật ra, Chúa Giêsu khẳng định:”Vì thợ đáng được nuôi ăn”(Mt 10,10). Điều này được hiểu ngầm rằng người nào không làm việc, người đó không có quyền ăn như thánh Phaolô kết luận (2Tx 3,10). Và cũng phải đọc lại lời lên án nghiêm khắc của người đã không làm sinh lợi nén bạc mà người đó đã lãnh nhận (Mt 25,14-30). “Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài”.

          Chúa Giêsu không đòi hỏi phải từ bỏ những của cải thiết yếu, nhưng đừng quá cho mạng sống mình: lấy gì mà ăn (6: 25-30), cho thân thể: lấy gì mà mặc (6: 31-33) và về ngày mai (6: 34). Những môn đệ Ngài sẽ có kinh nghiệm về lời khuyên này. Ở Tiệc Ly, Chúa Giêsu sẽ nhắc lại cho họ điều đó: “Khi Thầy sai anh em ra đi, không túi tiền, không bao bị, không giày dép, anh em có thiếu thốn gì không?”. Các ông đáp: “Thưa không” (Lc 22: 35).

          Hẳng ta còn nhớ cô Mác-ta tất bật lo toan nhiều việc để đón tiếp Ngài cho thật chu đáo trong khi cô em Ma-ri-a ngồi dưới chân Chúa lắng nghe Lời Ngài. Chúa Giêsu đánh giá rằng cô Ma-ri-a chọn phần tốt nhất. Chúa Giêsu thiết lập thứ bậc về hai cách thế bận lòng. Vào thời thiên sai, nỗi bận lòng ưu tiên phải là của cải tinh thần.

          Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy tín thác vào Chúa. Hãy để cho Chúa lo cho bạn ngày mai còn ngày hôm nay hãy sống hết mình với giây phút hiện tại. Hiện tại có khó khăn nhưng “sau đêm dài là ánh bình minh”. Hiện tại là bóng đêm nhưng bình minh sẽ ló rạng để phá tan đêm tối. Chúa bảo rằng: “chim trời chúng con gieo vãi mà vẫn có ăn, hoa cỏ đồng nội chúng không làm lụng thế mà vẫn xinh tươi rực rỡ”. Là con cái của Chúa, Chúa sẽ không bao giờ để chúng ta phải thua thiệt. Chúa sẽ chăm sóc cuộc đời chúng ta như người cha người mẹ lo cho con cái. Chúa sẽ luôn làm những điều tốt đẹp nhất cho chúng ta.

 

2Cr 12,1-10; Mt 6,24-34. 

 

Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2003

Một vài kỷ niệm sống động về linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận
Nguyễn Ðăng Trúc
Cựu chủng sinh Tiểu chủng viện Phú Xuân và Hoan Thiện Huế

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

- Như tựa đề bài viết nầy, tôi chỉ mong ghi lại một vài ký ức về linh mục Ph.X. Nguyễn văn Thuận luôn linh động trong cuộc sống hằng ngày của tôi. Những ngày tháng có nêu lên trong bài có thể không hoàn toàn chính xác, nhưng chắc chắn sự việc đã xảy ra, nhất là đã thực sự chi phối những bước đi của đời tôi.
- Khi đề nghị tôi góp nhặt những bài nói chuyện của ngài tại Strasbourg năm 1998 để thực hiện cuốn "Niềm vui sống đạo", Ðức Tổng Giám Mục Ph.X. Nguyễn Văn Thuận điện thoại nhắc tôi thế nầy: "Trúc nhớ đề ở đầu sách câu nầy của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II như lời gởi gắm riêng của cha cho người trẻ Việt nam: - Thành công lớn nhất của một cuộc đời là nên thánh" -. Hôm nay, khi ngồi viết lại một vài kỷ niệm gặp gỡ linh mục Ph.X. Nguyễn văn Thuận trong đời mình, tôi thâm tín việc nầy: Một người thánh, một cuộc đời đáng gọi là thánh khi ta nghĩ đến người ấy thì tự nhiên ta muốn mình trở nên tốt hơn. Và đó là kinh nghiệm của tôi khi tưởng nhớ về vị linh mục nầy.
Nguyễn Ðăng Trúc
Cựu chủng sinh Tiểu chủng viện Phú Xuân và Hoan Thiện Huế - Niên khóa 1959

I- Linh mục giáo sư tiểu chủng viện Phú Xuân và cha linh hướng
Tôi vào Tiểu Chủng Viện Phú Xuân khóa 1959. Khóa tôi 53 người, tôi mang số 53 vì năm ấy tôi được miễn thi vào chủng viện, lý do là vào lúc tổ chức thi tuyển, thì tôi bị bịnh thương hàn. Có thể nói khóa của tôi là khóa cuối theo "chế độ cũ của chủng viện". Chế độ cũ không có nghĩa là xấu, nhưng sau năm ấy (tức là từ khóa 1960) nhân sự điều hành và giảng huấn cũng như sinh hoạt chung của tiểu chủng viện thay đổi, một sự thay đổi mà linh mục Nguyễn Văn Thuận đóng một vai trò có tính cách quyết định.
Linh mục Thuận đổi đến tiểu chủng viện Phú Xuân thay cho linh mục Nghĩa vào đầu niên khóa 1960-1961. Ngài xuất hiện ra trước mắt tôi lúc đó như một hình ảnh gầy, cao, thẳng, đi nhanh, luôn luôn ăn mặc chỉnh tề, sạch sẽ và hay cười. Phòng ngủ của ngài nằm đầu mút tầng lầu cánh trái Tiểu Chủng Viện. Tôi nhớ dường như năm ấy ngài không làm gì nổi bật trong tiểu chủng viện ngoài một sự hiện diện vui vẻ, trẻ trung, một thái độ tôn trọng các linh mục, hoặc là thầy ngài ngày trước hoặc là lớp đàn anh của ngài. Ngài dạy lớp tôi môn pháp văn; và riêng cá nhân tôi, tôi là một trong những chủng sinh chọn ngài làm cha linh hướng. Nếu còn có một tình cảm nào còn lưu lại trong những lớp pháp văn ấy của ngài, thì đó là một tình cảm an bình, thoải mái trong những ngày tu trì. Mỗi giáo sư đều có một cái gì tích cực để lại trong cuộc sống chúng tôi, và điểm tích cực nơi vị linh mục trẻ nầy là trao cho tôi niềm vui khi học: không một giờ nào của ngài mà chúng tôi không có dịp để nghe chuyện vui và những điều lạc quan trong các câu truyện ngài kể. Riêng về cuộc sống thiêng liêng mà tôi tiếp cận được nơi linh mục linh hướng nầy, thì đó là thái độ cung kính, nghiêm trang khi ngài thi hành các tác vụ thiêng liêng của một linh mục. Ðây là yếu tố gây nên chấn động lớn lao hơn cả trong cuộc sống tôn giáo của tôi, khi được sống gần gũi với ngài.

II- Cha Bề trên Thuận
Ðối với tôi, tên gọi và hình ảnh nầy luôn sống động trong ký ức của mình.
Qua đến niên khóa 1961-1962, LM Thuận được Ðức TGM Huế đặt làm Bề trên tiểu chủng viện. Khi chúng tôi tưụ trường thì các giáo sư lớn tuổi được đi nhận các nhiệm sở trong các họ đạo, chỉ còn lại LM Giacôbê Lê Văn Mẫn, những linh mục trẻ (Lm Giuse Nguyễn Như Tự, Phêrô Ðoàn Quang Hàm, Philipphê Trần Văn Hoài, Stêphanô Nguyễn Như Thể, J.B. Etcharren), các thầy giúp xứ (Hồ Văn Quý, Nguyễn Văn Hội, Trần Văn Tuyên) tuần tự được đưa vào dạy chủng viện.
Niên khóa nầy, cha Bề trên Thuận lu bu đủ việc: canh tân cuộc sống tiểu chủng viện, xếp đặt làm sao để hai phần nhân lực của chủng viện bị phân làm đôi luôn liên lạc được với bề trên, và việc quan trọng là khởi công xây tiểu chủng viện Hoan Thiện, mà sơ đồ xây dựng và tài chánh do ngài đảm trách vận động phần chính yếu. Năm ấy cha bề trên mới có 33 tuổi!
Một tài năng tổ chức công việc hiếm có
Có người Chúa cho tài tổ chức nhân sự, đào tạo, giáo dục, kẻ khác là tài giao tế, vận động tài chánh, có người là tài xây cất cơ sở... Còn linh mục Thuận dường như Chúa nhân tăng ơn của Ngài: Trong một năm một linh mục 33 tuổi có thể vừa đặt lại nền móng đào tạo chủng sinh cho kịp những đòi hỏi canh tân của Giáo Hội trong mùa chuẩn bị Công Ðồng Vaticanô II, vừa đi đây đi đó ở khắp nơi trên thế giới để vận động tài chánh xây cơ sở Hoan Thiện, vừa đốc suất theo dõi tiến trình xây cất. Tài năng đó quí giá thật, nhưng đối với tôi, quan trọng hơn hết là trong những ngày tháng đa đoan như thế, tác phong một linh mục, một giáo sư, một bề trên chủng viện không vì hoàn cảnh nầy khác mà đi vào tình trạng được xem là "có thể chuẩn chước".
Nhà giáo dục
- Vào mùa mưa, tiểu chủng sinh lại chơi bi. Có chú chơi qua chơi về ăn được cả từng vài trăm viên bi. Tôi cũng không nhớ có phải phòng bán đồ trong chủng viện (do LM Giacôbê Mẫn phụ trách) bán ra hay không, nhưng hiện tượng lạ là vào mùa ấy là bi tràn ngập trong chủng viện. Năm đầu cha Thuận làm bề trên, lớp tôi là lớp lớn nhất trong các lớp nhỏ ở lại với ngài ở Phú Xuân, nên tôi cảm thấy như mình có trách nhiệm và hơi bực vì các chú nhỏ đem bi vào nhà ăn, nhà ngủ, đôi lúc cả trong nhà thờ...; không những khó chịu vì tiếng động của bi mà thôi mà vì mấy chú còn nói chuyện bất cứ lúc nào với nhau về bi. Tôi hỏi cha Bề trên: sao cha không phạt? Ngài cười và nói nhỏ với tôi: "Ðể xem, một tuần nữa thôi chẳng có ma nào chơi bi nữa đâu. Chuyện gì nhỏ và không quan trọng đừng quá lưu ý mà làm cho lời nhắc nhở việc lớn phải nhàm đi, không ai nghe!"
- Tính tôi lè phè: vào lớp hay vào nhà thờ đợt cuối cùng và thường trễ giờ đó là tôi. Có lẽ ngài đã chịu đựng tôi cũng khá lâu, nhưng cho đến năm tôi học lớp 4è thì tôi mới được chia việc "chấp lệnh", tức là đánh chuông. Tôi cũng không lưu ý tại sao lại được giao việc nầy. Nhưng hai sự kiện sau đây làm tôi suy nghĩ. Có lần tối thứ bảy có chiếu phim; sáng chủ nhật đáng lý 5 giờ 45 phải đánh chuông thức dậy. Tôi ngủ mê chẳng nghe đồng hồ báo thức. Ðến 5 giơ 55 chuông lại rung đánh thức mọi người, tôi giật mình chạy xuống cột chuông thì thấy cha Bề trên đã đứng đấy. Ngài cười nói với tôi: "Con ngủ ngon quá sức!". Ðến cuối năm, tôi cũng không hiểu tại sao các bạn trong lớp tôi giao cho tôi đóng kịch. Tôi có tật hễ đứng dậy phát biểu là chảy mồ hôi tay, chân run lên và đầu óc choáng váng. Thế nhưng sau lần làm kịch nầy, tôi thấy những hiện tượng bịnh hoạn ấy bớt dần. Và hôm nay, quá năm mươi tuổi đầu, khi nhớ lại những việc đã qua thì mới hiểu được rằng, việc chọn mình làm "chấp lệnh", đốc suất mình đóng kịch thì ra tất cả các quyết định là cử chỉ của nhà giáo dục ân cần xây dựng một cách nhẹ nhàng nhân cách con người mình.
- Ai ở tiểu chủng viện Phú Xuân hoặc Hoan Thiên hẳn còn nhớ là không mấy khi thấy cha bề trên gặp ai hoặc giải quyết, khuyên răn điều gì sau giờ ngủ trưa. Tò mò, tôi hỏi ngài về việc nầy. Ðây là câu trả lời: "Mình ngủ dậy trưa hay cáu lắm, làm sao mà giúp ai được việc gì cho nên".
- Nếu ai tò mò thì thấy tuần nào cũng thấy cha bề trên Thuận đi lượt một vòng các nhà cầu ở các tầng lầu. Một lần vô tình tôi gặp ngài đang đi dọc các nhà cầu cạnh nhà bếp và nhà chơi; có lẽ thấy tôi ngạc nhiên, nên ngài gọi tôi đến gần và nói: "Nhà cầu mà sạch sẽ, thì người ta không nhác đi cầu; và như vậy các chú sẽ thoải mái đỡ bịnh, học hành khỏi gián đoạn, và tính tình vui vẻ".
- Về tóc tai, ăn mặc, cha Thuận không se sua, nhưng luôn luôn chỉnh tề, sạch sẽ. Và không phải chỉ có một vài ngày trong tuần, hay vào dịp nầy dịp khác. Nhưng ngay khi đi nghỉ hè thoải mái chung với chúng tôi, chúng tôi cũng thấy cung cách nghiêm túc của ngài trong cách ăn mặc. Ngài thường nhắc lại cho mỗi chúng tôi: "Mình ăn mặc chỉnh tề là biểu lộ đức bái ái của Chúa, là tỏ lòng kính trọng người khác. Hãy nghĩ rằng nếu người ta chớp bóng quay phim lại cách ăn mặc của mình, nếu mình không xấu hổ gì là tốt."
- Năm 1965, lớp chúng tôi là lớp lớn nhất trong chủng viện. Không những mỗi đứa chúng tôi được trao trách nhiệm (cứ hai người coi một lớp) làm giám thị các lớp nhỏ, nhưng cả lớp còn được ngài đề nghị tổ chức một cuộc triển lãm về diễn tiến công đồng Vaticanô II cho cả điạ phận Huế đến xem. Làm sao một công việc như thế lại trao cho một nhóm chưa đầy mười thanh niên tuổi từ 17 đến 20? Nhưng chúng tôi đã hoàn thành tốt đẹp công việc tổ chức triển lãm nầy trong nhà khách Tiểu chủng Viện Hoan Thiện. Và thành công hơn cả là lòng tự tin, ý thức trách nhiệm và tinh thần cộng tác huynh đệ mà cha bề trên Thuận đã vun trồng nơi chúng tôi.
- Trước đây, sau khi có việc "hô điểm" cuối mỗi kỳ họp các cha, và sau khi vào gặp cha bề trên để nghe "tin dữ", chú nào bị "đuổi" ra khỏi chủng viện thì thấy đời mình như "cùi hủi" rồi; một sự thất bại ê chề trong cuộc đời; cha mẹ sẽ buồn; bạn bè e ngại đứng xa xa mà nhìn làm như phút chốc mình trở thành kẻ "tội lỗi". Chú ấy phải dọn đồ đi về ngay; nếu nhà xa hay trở ngại chưa đi về được, thì ra nhà khách ở... Nhưng từ ngày cha bề trên Thuận làm bề trên, cựu chủng sinh như được cha bề trên thương riêng, có lúc làm cho kẻ ở lại phải nêu thành câu hỏi. Ngài hay nói câu tiếng Pháp vào dịp nầy. Ði tu "c'est une chance", mà ra đời "c'est une autre chance". Mỗi người ra đi được xử đổi một cách "trân trọng" khác nhau, nhưng không ai rời khỏi chủng viện trong thời bề trên Thuận mà mang một mặc cảm tiêu cực nào.
Một nhà canh tân
Từ ngoài nhà khách tiểu chủng viện Hoan Thiện nhìn suốt đến cuối hành lang đầu nhà học, người ta nhận ra bức tượng đen bằng ximăng thật lớn của Thánh Bosco. Hình ảnh ấy không những nhắc nhở một lối giáo dục mới, nhưng là lời mời gọi những linh mục tương lai nên thực thi mục vụ trong tinh thần dấn thân phục vụ làm đầy tớ, ưu tiên cho những người nghèo.
- Chiếc áo bên ngoài và tinh thần phục vụ: Những thay đổi tuần tự nơi cách ăn mặc của chủng sinh: nay được mang dày; đồ học sinh thường thay cho chiệc áo dài đen quần trắng; nón nỉ "hướng đạo" thay dần kiểu nón cối; học chung với học sinh các trường bên ngoài... Người chủng sinh dưới thời cha bề trên Thuận bên ngoài là một "con người học sinh" như bao nhiêu người khác. Là một người thích hoạt động đoàn thể hướng đạo, ngài cho các lớp được tổ chức sinh hoạt tương tự như những đoàn thể thanh niên khác (khóa chúng tôi vào năm 5è là khóa đầu tiên được sinh hoạt như thế trong chủng viện, năm đầu của thời linh mục Thuận làm bề trên (1961-1962). Sau nầy, có lớp còn được đi dự các khóa hướng đạo bên ngoài; và ngay trong chủng viện có tổ chức cơ sở hướng đạo.
- Việc tiếp nhận người vào chủng viện không nhất thiết bị ràng buộc theo mẫu mực tuyển vào từ nhỏ; thời bề trên Thuận, những người gọi là "tu muộn" (kỳ thực chẳng muộn gì, nhưng không theo tiến trình cổ điển), nghĩa là bất kỳ vào tuổi nào cũng có thể được tiếp nhận vào chủng viện. Con số nầy càng ngày càng tăng, cộng thêm một số những người đã tu xuất trở lại tu làm linh mục. Những linh mục theo lối đào tạo như thế chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng số những linh mục được đào tạo theo kiểu cổ điển.
- Vào năm 1966, một năm trước khi ngài nhận chức giám mục, có lần ngài nói với lớp chúng tôi: "Cha có dự án xây rộng thêm bên ngoài nhà khách các chú để mở một xưởng nghề. Các chú mình tương lai phải học một nghề nghiệp để sinh sống, vì xã hội đang biến đổi, Giáo hội cần linh mục có lối sống khác hơn phong cách sống xưa nay". Ðây là một trong những dự án mà ngài đã chia sẻ với chúng tôi và ngài chưa bắt tay thực hiện được vì hoàn cảnh. Nói tóm, bề trên Nguyễn Văn Thuận đã đồng hành với giáo huấn Vaticanô II để đưa kitô giáo vào trong cuộc sống con người cụ thể theo tinh thần canh tân của hiến chế mục vụ Vui Mừng và Hy Vọng.
Quan trọng hơn cả: con người cầu nguyện
- Từ ngày Lm Thuận làm bề trên, không sáng nào, không tối nào, chủng sinh không thấy bề trên của mình ở mút đầu ghế bên trái cửa đi vào của nhà nguyện. Ngài quì thẳng người ở đấy trước khi chúng tôi đến nhà nguyện mỗi sáng, đích thân hướng dẫn nguyện gẩm, dâng thánh lễ buổi sáng mỗi ngày. Nếu tôi nói với bạn là trong suốt 6 năm tôi được ở dưới sự hướng dẫn của ngài, nhưng chưa một lần tôi thấy có một cử chỉ nhỏ nào sơ suất khi ngài dâng thánh lễ hay trong lúc đọc kinh, nguyện gẩm..., chắc bạn thấy thường thôi; nhưng qua kinh nghiệm riêng của tôi về cuộc sống tôn giáo, tôi thấy đây là dấu chỉ đích thực của một cuộc sống nội tâm sâu dày và kiên trì hiếm có. Vào một dịp lễ trọng, một vị linh mục trong chủng viện, trong lúc ngây ngất đã hát câu cuối lễ "Ite Misa est" thành "Ite eleison", mọi người tham dự thánh lễ không nín cười được và không ai có thể hát trả lời. Tôi quay nhìn lui cha bề trên, khuôn mặt ngài vẫn nghiêm trang. Chỉ một mình cất tiếng hát "Deo gratias" với tất cả lòng cung kính như mọi khi.
- Tất cả thư từ ngài gửi cho tôi khi tôi còn tu hay tôi đã xuất tu, ngài luôn nói câu cuối cùng nhắn nhủ: "Chúng ta phó thác mọi sự cho Mẹ Maria của chúng ta". Ngài tha thiết sùng kính Mẹ, và đặt ngay tượng Mẹ ở giữa trung tâm các tòa nhà chủng viện.
- Có lúc tôi hỏi về ý nghĩa kiến trúc chủng viện Hoan Thiện và đặc biệt về nhà nguyện tròn và có hồ nước chung quanh. Ngài giải thích rằng: nhà thờ là nơi gặp gở Chúa, và gặp gở người anh em, nhưng không phải gặp gỡ ào ào theo kiểu thế gian. Những lối xây cất chùa chiền trong văn hóa của dân tộc mình nhắc mình nhớ là phải "bước qua bên kia bờ" để có thể cầu nguyện. Ðầu óc tôi cứ vướng vấp về những lời nầy: cầu nguyện quá dễ, mà không dễ chút nào!

III- Một vài kỷ niệm khó quên
- Hè năm 1967, tôi dự định xuất tu, không còn ở trong Giáo Hoàng Học Viện Ðà Lạt. Ngài vừa nhận chức Giám Mục và đến thăm Ðại Học và Giáo Hoàng Học Viện Ðà Lạt. Ngài kêu riêng tôi để gặp ngài tại Ðại Học. Tôi chỉ nhớ một câu ngài nhắn tôi khi tôi trao đổi với ngài về quyết định của tôi. Ngài nói: "Tu cũng tốt mà về cũng là một ơn gọi riêng. Nhưng con nhớ điều nầy trong đời mình: điều tệ hại trong cuộc đời không phải phạm tội, nhưng là mất đi ý thức tội lỗi".
- Năm 1975, tôi bị ở trong trại "cải tạo". Vợ tôi ở nhà một mình với cháu nhỏ mới sinh được mấy tháng. Ngài đang gặp khó khăn trăm bề khi mới nhận chức TGM phó ở Sàigon. Nhưng Ngài đã nhớ đến tôi như đã nhớ đến trăm ngàn đứa học trò khác của ngài, và nhờ người đem đến cho vợ con tôi 30.000 đồng để mua gạo.
- Ðầu tháng 9 năm 1998, trước khi đến Strasbourg để nói chuyện với người trẻ Việt Nam tại Âu Châu, ngài nhờ cha Vincent Dollmann, dạy ở Ðại chủng Viện Strasbourg, tìm xem còn có ai trong gia đình của vị linh mục trước đây làm cha xứ Phủ Cam, Huế và đã rửa tội cho ngài. Vị linh mục nầy người gốc Alsace, Pháp (mà Strasbourg là thủ phủ). Cha Dollmann tìm khắp các nơi và không còn ai có tên ấy trong vùng. Nhưng khi hỏi đến quê của linh mục nầy, thì người ta tìm được một bà gọi vị linh mục ấy là ông cậu. Bà nầy là phu nhân của ông xã trưởng. Trong buổi nói chuyện với giới trẻ, ngài nhắc đi nhắc lại ơn được làm kitô hữu qua phép rửa tội của ngài 70 năm về trước; và cho rằng không có một lễ mừng nào vui hơn lễ thất tuần nầy của ngài, vì ngài có dịp đến cám ơn vị linh mục Chúa dùng để ban phép rửa cho ngài; cám ơn những bước chân anh hùng, máu đào tử đạo của các vị truyền giáo cho Việt nam. Và cũng vào dịp nầy ngài đã viết ra 10 sứ điệp Ðức Mẹ LaVang và loan báo với giới trẻ Việt nam về việc Ngài đang tiến hành công việc sáng lập Cộng Ðoàn La-Vang.
- Tháng 9 năm 1998, TGM Thuận được Phong trào Focolare mời đến Quốc Hội Âu Châu để dự lễ gắn huy chương của cơ quan nầy cho bà Chiara Lubich. Ngài đem theo cha Lê Phú Hải và tôi đến thăm vị đại diện Toà thánh bên cạnh Quốc Hội Âu châu và tham dự lễ gắn huy chương vị sáng lập Phong Trào Focolare, một người bạn thân của ngài. Khi chúng tôi đưa ngài ra nhà gare sân bay Entzheim, Ngài chỉ chiếc nhẫn giám mục thật lớn có vẻ quí giá mang ở ngón tay, và hỏi Sr Nguyễn Thị Hường, Cha Lê Phú Hải, cô Lâm Phương Mai và vợ chồng chúng tôi: "Ðoán xem cha mua bao nhiêu?". Không ai trả lời liền, nhưng nghĩ bụng chắc cũng trên nghìn mỹ kim. Ngài không thấy ai trả lời liền nói: "Mới đây cha có dịp đi Israel, thấy người ta bán ngoài lề đường, cha mua nó một mỹ kim, rồi nhờ người khắc trong nhẫn chữ "nada" (hư không, lời của thánh Têrêsa Avila). Ngó cũng được và là kỷ niệm quí!".

Thay lời kết
"Nada!", hư vô trở về hư vô với bao chức vụ có tơ vương màu sắc trần thế.
Nhưng nếu nhớ đến linh mục Ph.X. Nguyễn Văn Thuận để giúp nhau nên thánh, thì trên Thiên đàng hẳn người anh Phanxicô Xavie ấy cũng đồng ý và mỉm cưới với anh chị em còn lại của chúng ta.

Strasbourg, 2003
Nguyễn Ðăng Trúc
Cựu chủng sinh Tiểu chủng viện Phú Xuân và Hoan Thiện Huế - Niên khóa 1959


Thứ Tư, 9 tháng 5, 2001

 

Ý NGHĨA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ƠN THIÊN TRIỆU 

        Ý nghĩa nguyên thủy của Ơn Gọi (Vocation) là một lời mời gọi làm một phận sự nào đó trong cuộc sống. Ý nghĩa này vẫn còn phù hợp với những ai được gọi sống đời tu trì hay dấn thân vào một tác vụ chuyên biệt trong xã hội. Ðối với ơn gọi sống đời tu trì, người ta đã phân biệt thành ơn gọi làm tu sĩ (nam hay nữ) và ơn gọi làm linh mục, gọi chung là Ơn Thiên Triệu (Divine Call). Ðôi khi một người có thể nhận cả hai, như những linh mục dòng. Ơn Thiên Triệu làm linh mục hướng về một chức năng trong giáo hội, trong khi Ơn Thiên Triệu làm tu sĩ thì hướng về một đời sống mang bổn phận phải tiến tới trọn lành. Giá trị của sự phân biệt này là giúp tìm ra những phẩm chất phù hợp với khuynh hướng tu trì của các thỉnh viên.

Những quan niệm về bản chất của Ơn Thiên Triệu

        Mặc dù đã có sự xác định về bản chất của ơn Thiên Triệu qua tông thư “Sedes Sapientiae”(tạm dịch: Ngai Tòa của sự Khôn Ngoan) của ÐGH Piô XII, 1956, nhưng vẫn còn những quan niệm khác nhau cần được trình bày.

1. Quan niệm “Ơn Gọi Ngoại Tại” (External Vocation) đã cho rằng ơn gọi có hai thành phần: cụ thể (material) và hình thái (formal). Thành phần cụ thể là Ơn Chúa Gọi biểu hiệu qua những phẩm chất có sẵn trong các thỉnh sinh như tinh thần, thể lý, luân lý và nhất là có ý ngay lành. Thành phần hình thái là ơn gọi lãnh nhận một tác vụ lãnh đạo hợp lệ trong Giáo hội. Vì vậy, chỉ có những người đã được ơn gọi làm linh mục hay tu sĩ mới có năng quyền trong Giáo hội. Thành phần cụ thể của ơn gọi đã không đưa đến một năng quyền thiêng liêng cho linh mục, tu sĩ, nhưng năng quyền đó hiện hữu qua tác động hợp lệ của hàng giáo phẩm.

2. Quan niệm “hấp lực” (Attraction) cho rằng người ta có thể được sở hữu một ơn gọi mà Chúa trực tiếp ban một cách riêng biệt và trong người đó luôn luôn có một hấp lực siêu hình hoặc một cảm giác xúc động, không thể ngờ vực, trong phần sâu thẳm nhất của tâm hồn.

3. Quan niệm “Ơn Gọi Nội Tại” (Internal Vocation) nhận định rằng ơn gọi là lời mời gọi của Chúa đến một người trong hình thức của một ơn đặc biệt khiến cho người ấy chấp nhận cuộc sống mà anh/chị ta được kêu mời để sống. Ơn đặc biệt này dường như nghiêng về thành phần cụ thể của ơn gọi hơn là thành phần hình thái, mặc dù thành phần hình thái vẫn cần để xác định sự chân thật của ơn gọi nội tại.

        Trong ba quan niệm nói trên, quan niệm ơn gọi nội tại đã chính xác nhất. Trong Kinh Thánh, ơn gọi được nói đến cách đặc biệt, và xác định rằng mỗi trạng thái của cuộc sống đều là ơn của Chúa. (Mt.16:24; 1 Cor.7:25-35). Các Thánh Phụ trong giáo hội thời sơ khai cũng đồng ý, nếu không có ơn gọi nội tại, không ai nên theo đuổi đời sống tu trì, dù là linh mục hay tu sĩ. Các Ðức Giáo hoàng như ÐGH Piô XI và Piô XII đã đồng ý với quan niệm này.

        Riêng ÐGH Piô XII đã dạy rằng Ơn Thiên Triệu có hai thành phần chính, một là thiêng liêng, hai là Giáo hội. Trong thành phần thiêng liêng, ơn Chúa gọi nhận lãnh đời sống LM hay TS. Nếu không có thành phần này, cả nền tảng của ơn gọi đều không có. Thành phần giáo hội đòi hỏi có sự tuyển chọn (mời gọi) của các đấng bản quyền hợp lệ trong giáo hội. Nhờ vậy ơn Thiên Triệu mới được chứng thật, thử thách, hướng dẫn, và chấp nhận bởi những vị có thẩm quyền. Quyết định của những vị này đặt căn bản trên sự hiện diện hay vắng mặt của một số dấu chỉ chắc chắn trong các thỉnh viên. (theo tông thư Sedes Sapientiae).

Những dấu chỉ của Ơn Thiên Triệu

        Tuy không thể có sự xác định tuyệt đối về Ơn Thiên Triệu của một người, nhưng sự xác định luân lý có thể nhận diện được qua những dấu chỉ, để thẩm định về ơn Thiên Triệu của người đó. Những dấu chỉ đó có thể là:

1. Không có những trở ngại tự nhiên hay luật điều về Ơn Thiên Triệu của một người, chiếu theo giáo luật và hiến pháp của dòng tu.

2. Một số điều kiện hay thích nghi cần phải có, như hoàn cảnh gia đình, sức khoẻ, sự thăng bằng về tình cảm, quân bình về sự quí trọng những của cải thế gian, đạo đức, khả năng hòa đồng, trí thông minh, và luân lý. Luân lý ở đây ám chỉ không những đời sống độc thân do ơn gọi đòi hỏi, nhưng còn là sự chân thành, thẳng thắn và rộng lượng.

3. Phải có ý ngay lành hoặc động lực chính xác. Ðiều này vô cùng quan trọng trong tất cả những dấu chỉ nêu trên. Sự chấp nhận Ơn Thiên Triệu đòi hỏi một kiến thức về Ơn Gọi Thánh tùy theo khả năng và lứa tuổi, tự do hoàn toàn để chọn lựa, ý chí vững mạnh để theo đuổi những thiện ích. Phải có ước muốn chắc chắn để đạt được mục đích của Ơn Thiên Triệu, như phụng sự Chúa và anh em qua đời sống truyền giáo, qua phụng vụ Thánh Thể…

        Nếu không có ý ngay lành, người ta chỉ có thể theo đuổi Ơn Thiên Triệu trong một thời gian giới hạn mà thôi. Ý ngay lành phải được thể hiện qua lối sống của thỉnh viên.

        Những dấu cho thấy một người không có ơn Thiên Triệu, có thể kể đến như sự thiếu khả năng tự chế, nóng tánh cách bất thường để đưa đến việc không thể vâng lời, thiếu mềm dẻo, hay ghen tương, và phán đoán lệch lạc.

Tâm lý Ơn Gọi

        Trong cuốn “Choosing a Vocation” (Chọn Lựa Một Nghề), Boston, 1909, ông Frank Parson, một nhà giáo dục và xã hội đã trình bày lý thuyết căn bản hình thành môn Tâm Lý Nghề Nghiệp (Vocational Psychology). Lý thuyết tâm lý nghề nghiệp của Parson được chia thành ba điểm chính:

1. Tự hiểu cách rõ ràng về chính mình, về những khuynh hướng, khả năng, quan tâm, tham vọng, phương sách, giới hạn của mình và những nguyên nhân của chúng.

2. Hiểu biết về những đòi hỏi và điều kiện của thành công, những ưu và khuyết điểm, những quyền lợi, cơ hội, và hi vọng thành công trong những chiều hướng khác nhau của công việc.

3. Suy tính thực sự về những tương quan giữa hai nhóm sự kiện nói trên.

        Ngay sau khi Parson qua đời, lý thuyết của ông đã được nhiều người công nhận. Năm 1911, Đại học Harvard đã thành lập khoa huấn luyện những cố vấn hướng nghiệp, và năm 1913 Hội Hướng Nghiệp Quốc Gia (National Vocational Guidance Association) ở Mỹ đã được thành lập.

        Mối quan tâm lớn của các nhà tâm lý ơn gọi Công giáo là làm thế nào có thể đưa những nguyên tắc phát triển hướng nghiệp vào việc tuyển chọn các ơn gọi tôn giáo. Ðã có những ý kiến khác biệt, tỏ mối lo ngại về việc đưa môn tâm lý thời đại, với vật chất và tự nhiên, (khuynh hướng của Freud), vào lãnh vực tôn giáo mà căn bản là siêu nhiên. Tuy nhiên, những nghiên cứu mới nhất đã cho thấy không có sự đối nghịch giữa khoa tâm lý hiện đại và môn thần học ân sủng trong việc thích ứng vào lãnh vực ơn gọi tôn giáo. Những thử nghiệm tâm lý không bao giờ qua mặt những phương thức tuyển chọn ơn gọi đã có, hoặc xen vào diễn tiến hướng dẫn tinh thần, nhưng chỉ đóng vai hỗ trợ những phương thức và kỹ thuật đã có.

        Khoa tâm lý ngày nay đã và đang cung cấp những quan niệm có thể giải thích những phương diện tự nhiên của sự chọn lựa ơn gọi trong lãnh vực tôn giáo. Việc xử dụng những lý thuyết tâm lý đương thời vào sự chọn lựa ơn gọi tôn giáo còn cần thiết để tìm ra những nguyên nhân bỏ cuộc của các chủng sinh ở chủng viện, cũng như của các thỉnh sinh trong dòng tu, đồng thời xác định những người đang mang tâm bệnh để phòng ngừa.

        Nhà tâm lý ơn gọi hôm nay đóng ba vai trò chính:

1. Là người chuẩn đoán (diagnostician), ông sẽ phải đối diện với câu hỏi về điều đã cấu thành sự thỏa mãn và mục đích trong tâm lý thẩm định của các thỉnh sinh về đời sống tôn giáo để chọn lựa dòng, triều.

2. Là người cố vấn, ông phải hỏi, cách cặn kẽ, vị hướng dẫn tinh thần của các thỉnh sinh về sự xác định giới hạn những hoạt động của các thỉnh sinh đó.

3. Là nhà khoa học thực hành, ông phải lướt qua tất cả những lý thuyết hướng tới sự chọn lựa ơn gọi và phát triển, đồng thời đưa những trực giác tự nhiên này đến lãnh vực ơn gọi tôn giáo.

Ơn Gọi đời sống siêu nhiên

        Chúa mời gọi con người nhận lãnh món quà tình yêu của Ngài, là chính Ngài, để sống đời ân sủng cũng như những phương tiện Ngài cung cấp qua sự nhận lãnh đó. Vì cuộc sống này vượt trên tất cả những quyền lực, những nhu cầu thiết yếu, và những ơn riêng của bất cứ tạo vật nào khác, nên là cuộc sống siêu nhiên.

        Những nhân vật được Chúa gọi sống đời siêu nhiên trong Cựu Ước như các tổ phụ Abraham, Môi-Sê, tiên tri Isaia… để thực hiện công tác làm cho dân Israel trở thành dân của Chúa hay cộng đồng giao ước, của tất cả mọi người (Acts 2:39) qua Ðức Kitô (Rom. 1:6; 1Cor. 7:20, 24) trong Ðức Chúa Thánh Thần (Eph. 4:4), trở nên chủng tộc mới của Chúa, dân Israel mới hay cộng đồng giao ước phục vụ ý định của Ngài trong lịch sử, chấp nhận những ân sủng của Ngài, sống và thờ phượng trong hi vọng được chia sẻ vinh quang muôn đời của Ngài (1 Thes. 5:24).

        Toàn bộ Tân Ước dạy rằng, ơn gọi sống đời siêu nhiên đưa đến “ân sủng của Ðức Kitô” (Gal. 1:6), là đưa đến một cuộc sống không đơn thuần tự nhiên, nhưng siêu nhiên. Câu hỏi được đặt ra ở đây: Vì ơn gọi sống đời siêu nhiên không những là phổ quát, nhưng còn là cá nhân, vậy người ta có tự do chấp nhận hay phủ nhận ơn gọi này không? Một số nhân vật cấp tiến ở thế kỷ thứ XIX đã cho rằng, người ta không nhất thiết phải chấp nhận, vì ơn gọi này ban đi như một món quà tặng; chính Chúa cũng không ban truyền như một huấn lệnh. Ngược lại, giáo huấn Công Giáo, trong khi vẫn giữ phần hơn của sự siêu nhiên, dạy rằng ơn gọi sống đời siêu nhiên đòi hỏi tất cả mọi người phải chấp nhận và theo đuổi. (ÐGH Lêo XIII, Tông Huấn Libertas Praestantissimum – “Về bản tính của tự do con người.” 1888). Nhiều nhà thần học nghĩ rằng các thiên thần đã sa ngã và ông Adam đã phạm tội là vì không chấp nhận ơn gọi này và chỉ tìm kiếm hạnh phúc qua những sự vật tự nhiên mà thôi. Cũng vậy, Giáo Hội quan niệm rằng sự từ chối ơn gọi sống đời siêu nhiên là lỗi lầm căn bản của các thuyết tự nhiên (naturalism) và thế tục (secularism).

Bổn phận phải theo đuổi Ơn Thiên Triệu

        Có hai ý kiến được các tác gỉa có thế giá trình bày. Ý kiến thứ nhất cho rằng bởi vì ơn Thiên Triệu làm LM hay TS không phải là huấn lệnh (precept), nhưng chỉ là lời khuyên (counsel), nên nếu không tuân hành cũng không phạm tội. Ðó là ý kiến của Vermeersch, Berthier, Bouvier, A. Carr, và E.P. Farrell. Tuy nhiên các tác giả này công nhận một luật trừ, trường hợp có sự bất khả kháng để được cứu rỗi.

        Ý kiến thứ hai quan niệm rằng bất cứ ai được Chúa ban ơn Thiên Triệu đều có bổn phận phải theo đuổi, nếu không sẽ có tội, và sự nghiêm trọng của bổn phận sẽ được xét xử theo từng trường hợp. Ý kiến của các tác giả Cajetan, Thánh Alphonsus, Passerini, Leclercq, W. Farrell, S. Osbourn. Những lý do căn bản của ý kiến này là:

1. Giáo hội dạy rằng người ta không nên theo đuổi Ơn Thiên Triệu làm linh mục hay tu sĩ, nếu không được gọi cách nội tại (đã trình bày ở trên). Nếu không người đó sẽ dấn mình vào hướng sai lạc và có thể trở nên mối khó khăn cho chính mình và cho những người khác với mối nguy cơ của sự hư hỏng muôn đời.

2. Sự hoàn toàn từ chối cách tự nguyện sự linh ứng Thánh và ân sủng đã được nhìn nhận và hiểu biết là có tội. Tuy nhiên, Ơn Thiên Triệu này không có bổn phận phải theo, cho đến khi chính Chúa ban, qua sự linh ứng hoặc ơn thiêng chân chính. Nếu không Ơn Thiên Triệu chỉ là lời khuyên.

        Như vậy vấn đề bổn phận không đặt trọng tâm Ơn Thiên Triệu trong sự trừu tượng, nhưng trong sự cụ thể, với tất cả những hoàn cảnh đã được cân nhắc, kể cả sự nhận biết về sự hiện hữu của ơn đặc biệt thúc đẩy người ta theo đuổi một hay cả hai Ơn Thiên Triệu nói trên. Cũng như ân sủng, các Ơn Thiên Triệu cần phải được nuôi dưỡng để luôn luôn có động lực và sinh tồn.

Các phương pháp giữ gìn Ơn Thiên Triệu

        Mặc dù ơn Thiên Triệu thực sự do chính Chúa ban cách đặc biệt, nhưng các linh mục, tu sĩ vẫn cần phải phát triển và gìn giữ ơn thiêng ấy qua việc thực hành một số đòi hỏi cần thiết cho đời tu. Những đòi hỏi đó, một cách vắn tắt có thể kể đến việc suy gẫm, cầu nguyện, tĩnh tâm và cẩn trọng trước những mời gọi hoàn toàn có tính cách thế gian. Luôn cố gắng thực hành những nhân đức bác ái, trong sạch, độ lượng và vâng lời, đồng thời phát triển tinh thần xả kỷ, hy sinh.

        Những hoạt động cần thiết để vun trồng một Ơn Thiên Triệu khi còn ở chủng viện vẫn phải được tiếp tục trong đời sống linh mục, tu sĩ. Sự bền đỗ đòi hỏi một số điều kiện mà trên hết là tinh thần khiêm nhường với sự nhận biết hoàn toàn những yếu đuối của mình trong sự cẩn trọng. Ơn Thiên Triệu không phải được nhận lãnh rồi thôi, nhưng vẫn luôn luôn cần sự để ý, chăm sóc; và cũng như ân sủng, ơn Thiên Triệu không bao giờ ngừng thăng tiến. Sự thay đổi duy nhất của ơn Thiên Triệu nảy sinh từ việc không ngừng khám phá những chiều kích mới hướng tới đỉnh trọn lành. Ðiều này sẽ làm gia tăng sự quân bình trong nhân đức và ân sủng, nền tảng của mọi đời tu.

        Thánh Phaolô viết: “Ðiều tôi khẩn nguyện là xin cho lòng yêu mến nơi anh em được đầy tràn mãi mãi trong tri thức và tất cả nhận thức để anh em có thể minh chứng những điều tốt hơn”(Phil. 1:9-10), Điều này cần được nhắc lại như một khuyến khích cho những ai đang muốn đáp lại lời mời gọi dấn thân sống đời tu trì. Ơn Thiên Triệu còn có thể tìm thấy những tương đồng trong cuộc Truyền Tin, cả chương trình cứu chuộc của Chúa Kitô đã được trình bày như một lời mời gọi và tùy thuộc vào sự chọn lựa hoàn toàn tự do của Ðức Mẹ Maria.

 

Thứ Ba, 18 tháng 7, 2000

Linh mục Tiến sĩ Giuse Nguyễn Như Tự (1933 -1987)





Sinh ngày 11/01/1933 tại làng Ba Bình, tổng Hiền Lương, phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị thuộc Giáo xứ Ba Ngoạt.
Rửa tội ngày 15/01/1933 tại Giáo xứ Ba Ngoạt
Thánh hiệu : Giuse (Joseph)
Thân phụ: Giuse Nguyễn Như Chỉnh  (1890 -1936) (Lý trưởng ).
Thân mẫu: Anna Lê Thị Hạnh  (1891 -1964 ).

Các anh em gồm có :
1-       Giuse Nguyễn Như Sự            Nông dân          (1912-1976)
2-       Toma Nguyễn Như Thường   Tu sĩ  (CSsR)    (1915-1948) 
3-       Giuse Nguyễn Như Sinh         Lý trưởng          (1917-1989)
4-       Tađêô Nguyễn Như Tâm        Quân nhân         (1927-1963)
5-       Bartô Nguyễn Như Tình          Quân nhân         (1930-2011)
6-       Giuse Nguyễn Như Tự           Linh mục            (1933-1987)
7-       Giuse Nguyễn Như Hướng    Quân nhân         (1936- 2023)


Linh mục bảo trợ là Linh mục Thomas Lê Văn Thiện (1904-1987) cũng  là cậu ruột của Linh mục Giuse Nguyễn Như Tự.
Vào chủng viện An ninh : 1951
Vào Đại chủng viện Phú xuân : 17/09/1954
Vào Đại chủng viện Sài gòn : 1954 -1956
Lãnh phép cắt tóc : ngày 17/03/1956 tại Đại chủng viện Sài gòn, sau đó đi du học tại Roma cùng với Cha Emmanuel Nguyễn Vinh Gioang và Cha Nguyễn Văn Mỹ.
Bốn chức nhỏ: ngày 21/12/1957 và 22/03/1958 tại Italya
Chức năm: ngày 20/12/1958 tại Italya
Chức sáu : ngày 13/03/1959 tại Italya
Thụ phong Linh mục: ngày 29/06/1959 do Đức Hồng Y GIOSEPPE SIRI Tổng Giám mục giáo phận GENOVA phong chức tại  Giáo phận GENOVA  thuộc miền Tây bắc Italya.
Tiếp tục theo học tại Collegio Sancto Pietro, Roma, Italya từ 01/10/1959 đến 01/10/1962 chuyên về Thần học - Giáo luật. 
Đỗ 02 bằng Tiến sĩ Thần học và Giáo luật.
Về Việt Nam làm phó xứ Thạch Hãn: 25/10/1962
Giáo sư Tiểu chủng viện Hoan Thiện : 03/08/1963
Phụ tá Công giáo tiến hành và Linh Giám Comitium Huế : 01/06/1966
Linh mục Chánh xứ Mỹ Chánh: 19/07/1967
Ngài có 02 Người con tinh thần là Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý (hiện sinh hoạt tại giáo phận Huế ) và Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Phương (hiện sinh hoạt tại giáo phận Nha Trang ).

Sau ngày 30/04/1975 làm chánh xứ Giáo xứ Phú Nhơn ( Đồng Lác) thuộc giáo phận Nha Trang thay thế Linh mục Théophane Nguyễn Sơn Ngà (1972 - 1975) và Linh mục Gioan Nguyễn Văn Dũng đã qua đời (1960-1972).
Ngài lâm bệnh nặng và phải điều trị tại Sài gòn nhưng bệnh tình không thuyên giảm, bà con của Ngài đưa Ngài về Giáo xứ Quảng Biên ( thuộc giáo phận Xuân Lộc) để chạy chữa, lo lắng cho Ngài trong những ngày cuối đời và dự định sẽ lo hậu sự cho Ngài tại Giáo xứ Quảng Biên.
Nhưng trong thời gian bệnh nguy kịch các giáo dân xứ Phú Nhơn đã vào xin đưa Ngài về giáo xứ. Trên chuyến xe đưa Ngài về Giáo xứ Phú Nhơn có thân nhân gia đình Ngài và đại diện Ban hành giáo. Trong lúc hôn mê Ngài đã chịu các phép bí tích cuối cùng tại Tòa Giám mục địa phận Xuân lộc - Long Khánh. Về đến Giáo xứ Phú Nhơn một hồi chuông kéo dài ngân vang để đón Ngài cũng là hồi chuông tiễn biệt Ngài. Ngài qua đời ngày 19/07/1987 hưởng dương 54 tuổi. 

Đám tang của Ngài cũng rất đau lòng ( hy hữu và ly kỳ), quan tài mượn của một giáo dân trong giáo xứ. Giáo dân mong muốn được an táng Ngài trong khuôn viên Nhà thờ cạnh mộ phần của Linh mục Gioan Nguyễn Văn Dũng (Cha Tiên khởi), nhưng vì có một số ý kiến khác nhau nên không cho phép ..... , nên địa điểm là trên núi xa. Thánh lễ an táng xong giáo dân cùng thân nhân đưa Ngài lên núi nhưng khi đặt quan tài xuống huyệt mộ thì đồng bào Thượng (dân tộc thiểu số) chạy ra ngăn cản và nổi loạn không cho an táng  tại đây.... . Trong bầu không khí căng thẳng và đau khổ vô cùng thân nhân của Ngài cùng với giáo dân đã đưa Ngài về an táng cạnh mộ phần Linh mục Gioan Nguyễn Văn Dũng trong khuôn viên Nhà thờ và ước nguyện ban đầu của giáo dân và thân nhân Ngài ban đầu đã thành hiện thực. 

( Đây là tiểu sử của các Linh mục trong sổ lưu các Linh mục Địa phận Huế do Linh mục Emmanuel Nguyễn Vinh Gioang - Trưởng ban truyền thông Tổng giáo phận Huế  và Soeur Maria Nguyễn Thị Ái Linh- Dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng - trích lục ).